Đăng nhập | Đăng ký

Thành viên đăng nhập

Thông tin Quảng trị 48h

Để đăng nhập, bạn cần khai báo đầy đủ vào các ô trống dưới đây. Hệ thống sẽ kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu khai báo
Chào mừng các bạn đến với Trường Phật Học Khánh Hòa

wWw.Truongphathockhanhhoa.edu.Vn

Trao Đổi Phật Pháp

Nẻo vào tâm giới

Nẻo vào tâm giới

Nẻo vào tâm giới

PHKH - Bác sĩ Anthony J. Sattilado là Giám đốc của một bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ, nhưng bị mắc bệnh ung thư di căn. Nhờ áp dụng phương pháp thực dưỡng Macrobiotics dựa trên triết lý và y học cổ truyền phương Đông, ông đã xóa được không chỉ dấu vết của ung thư mà cả những định kiến để tiêp nhận một tri thức mới về sự sống. Sau đây là lời tâm tình của ông được trích dịch từ tập sách Living well naturally (Sống tự nhiên).
Cũng như nhiều người Mỹ trí thức khác, tôi đã từng tự cho mình là người duy lý nhất. Bất kỳ cái gì cũng muốn được xem là thực thì phải được chứng minh bằng biểu hiện vật lý, nghĩa là người ta cảm nhận được cái đó bằng năm giác quan (thấy được, ngửi được, nếm được, sờ được và nghe được) hoặc do lường được các tác dụng của nó bằng các dụng cụ khoa học. Nói cách khác, cái gì  cũng có trong tự nhiên đều phải có hình dáng, không hình không dáng và không do được nghĩa là không có thực. Tư tưởng duy lý làm tôi  làm tôi choáng ngợp đến độ dù “nghi” là một điều gì đó về sự sống và thân phận con người cao rộng hơn quan điểm vũ  trụ thuận vật lý, tôi cảm thấy không thích hợp khi phải diễn tả một nỗi nghi như vậy ngay cả với chính tôi, vả lại ngườ bày tỏ một viễn ảnh tâm linh về đời sống thường dùng lời lẽ mang màu sắc cảm tính hơn lý trí.

Lúc tốt nghiệp y khoa, lý trí đã hoàn toàn chi phối phần ước mong bổ khuyết về mặt tâm linh của tôi. Tôi nói là chi phối, chứ không phải là tiêu diệt, vì tiêng nói bên trong vẫn thỉnh thoảng vọng lên thì thầm trong câm lặng như khuấy động hồn tôi. Nhưng tiếng thì thầm ấy chưa đủ sức đẩy lùi tham vọng thành công sự nghiệp cá nhân, và thỏa mãn những mơ ước đời thường, vì nếp suy nghĩ duy lý phục vụ cho tham vọng như bao nhiêu người khác. Óc duy lý thấy mọi cái hiện hữu như là thực thể riêng biệt vì không có cơ sở chứng minh cho thực tại tâm linh, nên người ta chỉ để ý đến đặc quyến đặc lợi của chính mình, mà tất cả đều được sắp đặt tùy theo mức độ quan tâm đến sự sống còn; và tôi đã phấn đấu sống còn trong lĩnh vực đua chen của ngành y và sau đó là điều hành bệnh viện. Vì tình thương cần sự hy sinh quên mình, nên tất yếu không phát triển được trong một môi trường đấu tranh, chụp giựt. Bởi lẽ đó tôi thường thấy mình cô đơn (hoặc “tự cô lập”) trong cuộc sống, nếu lẻ loi chăng cũng chỉ là một nhóm bạn thân mà đôi người cũng có nhìn tôi với đôi mắt ganh tỵ. Mỉa mai thay,vào lúc tôi với tới được nấc thang thành công khá cao – được đề cử làm giám đốc một bệnh viện lớn –thì lại chạm trán với cơn khủng hoảng nhất đời: bệnh ung thư! Bỗng dưng tiếng thì thấm trong tôi vang lên mồn một, và những thần tượng khoa học duy lý bắt đầu sụp đổ.

Trong tâm, tôi thấy mình đạt đến giới hạn của kiến thức và quyền lực. tôi sắp chết mà y học tiên tiến không giúp được gì, ngoại trừ lấy đi sươn sườn bị ung thư và cặp tinh hoàn. Mặc dù phẫu thuật tinh vi và thuốc men đầy đủ, cái chết dường như cầm chắc!

Các cuộc phẫu thuật đã nghiền nát tâm tư tình cảm của tôi.

Cuối cùng, tô lần mò vào một hệ thống trị liệu tuy không có cơ sở hợp lý nào, nhưng tôi bám vào đó vì nó cho tôi hy vọng. Lẽ dĩ nhiên, ban đầu tôi không tin hẳn một phương pháp chỉ gốm ăn chay quân bình âm dương, thể dục khí công và tĩnh tâm thiền định lại có thể giải quyết được một vấn đề làm các bậc trí thức sáng chói nhất nước Mỹ phải bó tay. Tuy nhiên, càng ngày càng thấy mình khỏe ra trên đà hồi phục, tôi càng thêm tin tưởng hiệu lực của phương pháp này.Điều làm cho nền móng duy lý của tôi rung rinh hơn cả đó là sự kiện kỹ thuật nói trên được giải thích bằng những thuật ngữ trái ngược với tư tưởng duy lý, nhất là với kiến thức của Tây y chính thống.

Lời giải thích của phương pháp Thực dưỡng tuy có đưa ra những luận điểm khoa học , nhưng đối với trình độ hiểu biết cảu tôi lúc bấy giờ (1978), tất cả đều mơ hồ gượng ép. Hơn nữa, phương pháp nảy lại đề cập đến sự hiện diện của một năng lực phổ quát mà phương Đông gọi là “khí”, năng lượng này có mặt trong mọi  sinh vật và là nhiên liệu chính yếu của cuộc sống. Các kỹ thuật ăn chay lành mạnh, châm cứu, thể dục khí công và tĩnh tâm thiền định nhằm cải thiện dòng năng lượng đã bị rối loạn, đưa cơ thể trở lại trạng thái quân bình.

Đối với phương Tây, lời giải thích này có vẻ thần học  hơn là khoa học. cho rằng năng lượng phổ quát là nguồn sống đích thực dường như là một cách nói khác về Thượng đế và các ân sủng cùa Ngài. Người phương Đông cho rằng trong và quanh cơ thể có một môi trường năng lượng, vậy môi trường đó có phải là linh hồn của con người hay không? Như vậy, theo quan điểm này, con đường duy nhất tô phải đi đến cùng để khỏi bệnh là cởi mở tự ngã để tiếp nhận năng lượng trị liệu hay ân sủng của vũ trụ? Những suy tư như thế khiến tôi cảm thây cuộc đời như giấc mộng và tôi dấy lên niềm phân vân day dứt không nguôi, vì triết lý phương Đông kêu gọi phần mỹ cảm hay tâm linh.

Dù sao tầm nhìn tâm linh giúp tôi cảm thấy mình dồi dào sức mạnh và năng lực nội tại hơn và tầm nhìn duy lý có thể đem lại. Các phương pháp dưỡng sinh cổ truyền của cả Đông lẫn Tây đều xác nhận như nhau: bằng cách ăn uống lành mạnh, tĩnh tâm và sống giản dị, người ta thanh tẩy được con người mình, trở nên trong sạch và thấm nhuần nguồn năng lượng chân nguyên của vũ trụ, các hàn động của con người nhờ thế sẽ có ý nghĩa hơn v2 được thôi thúc bởi những động lực tinh thần hơn là những dục vọng tầm thường.

Hàng ngày tôi qua lại giữa hai thế giới – từ thế giới của Descartes, nền tảng y học hiện đại, đến quan điểm tổng hợp về thực tại, cơ sở của phương pháp. Thực dưỡng mà tôi hy vọng sẽ giúp đời tôi. Khỏi phải nói, tôi cam chịu  một nỗi niềm tựa hồ cơn khủng hoảng. Không có gì vốn liếng kinh nghiệm bản thân có thể giúp tôi  nắm bắt cách suy tư mới, ngoại trừ những hiểu biết  về niềm tin Thiên chúa do nhà thờ thuyết giảng còn sót lại từ thờ thơ ấu. Thật vậy tôi không tới nhà thờ nhiều năm và các tin điều thuyết giảng của tôn giáo không còn vướng bận trong tâm thức hàng ngày của tôi nữa. Thật vậy, phương pháp Thực dưỡng dường như xa lạ đối với tôi đến nỗi có những lúc tôi tưởng chừng những lời truyền bá đã bịa ra lời giải thích cho thực tại khi họ áp dụng nó. Nhưng điều làm tôi băn khoăn nhất là liệu quan điểm tổng hợp tâm thể này có thể đem lại kết quả hay ho nào không?

Tôi đã phân vân giữa  hai điều chọn lựa: hoặc là dẹp bỏ óc duy lý và hy vọng tìm thấy giá trị trong những gì tôi đang làm, hoặc là phủ nhận mọi thực chất trong những gì xảy đến với tôi, và tôi đã chọn cả hai.

Tôi phải tập chấp nhận sự kiện có hai lối nhìn vào thực tại: một là dựa vào lý trí cho rằng mỗ sự vật trong thiên nhiêm đều có thể cô lập như một thực thể riêng lẻ, cách vận động và phân biệt thoe những quy luật có tính máy móc và hi là cảm nhận bằng tâm linh, thấy rằng mọi sự vật trong thiên nhiên, bao gồm đời sống là thống nhất, là vận động của đơn vị thống nhất này bị chi phối bở một năng lực vô tận còn gọi là “lượng năng” hay “chân tâm” luôn luôn nâng cao thể chất và tinh thần đến chỗ tốt đẹp.

Vì lẽ đó, tôi vẫn để xét nghiệm y khoa đều đặn, chính những xét nghiệm này chính ra cũng là tiếng nói quen thuộc giúp chứng minh  đucợ thực tế. các xét nghiệm đều cho thấy  sức khỏe tôi trên đà phục hồi và cuối cùng là dấu vết ung thư hoàn toàn biến mất. Như vậy phương pháp xa lạ không chính thống này đã có tác dụng thực sự, mặc dù lời giảng giải căn bản mang tính chất bí ẩn.

Dù sao, tôi cũng đến độ tin rằng đằng sau mọi sự hiện hữu có một động lực mà người phương Đông gọi là Phật tính, động lực đó cũng là tình yêu vô biên và vô hạn, nhưngđồng thời cũng cương quyết nhắc nhở và kiên trì giáo dục để nâng cao tâm thức chúng ta. Một trong những cách hành tác dường như thường có của động lực đó là xô đẩy chúng ta vào nhữn biến cố làm tê liệt tri giác, phá vỡ những niềm tin và thành kiến đã có đến độ chúng ta sụm xuống như đống gạch vụn của một tòa cao ốc sụp đổ tan tành. Chính vào thời điểm thập tử nhất sanh này có thể và thường xảy ra một hình thức “tái sinh” chuyển thể, và đó là lúc khởi đầu, một đời sống mới.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 47 | CHÂN PHƯƠNG  dịch từ “Living Well Naturally” BÁC SĨ ANTHONY J. SATTILADO.

Tác giả bài viết: CHÂN PHƯƠNG dịch từ “Living Well Naturally” BÁC SĨ ANTHONY J. SATTILADO.

Gửi bình luận của bạn

Mã chống spamThay mới
 
© Copyright 2016 Trường Phật Học Khánh Hòa
Địa chỉ: Số 20, Đường 23/10, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa - Điện thoại: 058. 3812542

Bài vở đóng góp, xin gởi về Ban biên tập qua địa chỉ email: truongphathockhanhhoa@gmail.com .
Ghi rõ nguồn www.truongphathockhanhhoa.edu.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.