Đăng nhập | Đăng ký

Thành viên đăng nhập

Thông tin Quảng trị 48h

Để đăng nhập, bạn cần khai báo đầy đủ vào các ô trống dưới đây. Hệ thống sẽ kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu khai báo
Chào mừng các bạn đến với Trường Phật Học Khánh Hòa

wWw.Truongphathockhanhhoa.edu.Vn

Trao Đổi Phật Pháp

Đời sống người xuất gia dưới thời Đức Phật tại thế

Đời sống người xuất gia dưới thời Đức Phật tại thế

Đời sống người xuất gia dưới thời Đức Phật tại thế

PHKH - Nội dung và ý nghĩa của bài viết này không ngoài tinh thần ‘Ôn cố tri tân’. Với tinh thần đó, trước nhất người viết căn cứ những kinh điển Nikàya giới thiệu ‘Đời sống của người xuất gia trong thời đức Phật còn tại thế’, hay nói đúng hơn người viết muốn đề cập đến tinh thần biết bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia. Bất cứ ai sống trong xã hội đều phải có bổn phận và trách nhiệm, dù nhỏ hay lớn, già hay trẻ.
  1. Dẫn luận

Phật giáo không chỉ có một hình thức tu tập cố định nào làm tiêu chuẩn cho mọi sinh hoạt của Phật giáo. Hình thái sinh hoạt cũng như phương pháp tu tập trong Phật giáo luôn luôn mang tính ‘tuỳ cơ’, có nghĩa là tuỳ theo căn cơ và hoàn cảnh khác nhau mà  hình thành một phương pháp tu tập hay sinh hoạt khác nhau. Điều này không những chúng ta được thấy trong kinh điển của Phật giáo Đại thừa mà ngay cả trong kinh điển Nikàya[1] hay A hàm (Àgama)[2], là những kinh điển được xuất hiện sớm nhất. Điều đó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, chúng ta không nên bám lấy một hình thức sinh hoạt hay một phương pháp tu tập cố định nào làm tiêu chuẩn, từ đó có ý bài bác những sinh hoạt khác, lẽ tất nhiên hình thức sinh hoạt hay phương pháp tu tập đó có xu hướng dẫn hành giả đến mục đích là thành đạt sự giác ngộ và giải thoát. Do vậy, nội dung của bài viết này, tôi không có ý định bài xích những hình thái sinh hoạt hay pháp tu tập khác, mà chỉ làm một việc đơn giản chỉ là giới thiệu đến độc giả đời sống của người phạm hạnh của Phật giáo nguyên thuỷ, cụ thể là trong kinh điển Nikàya, kinh điển này đã ghi lại đời sống của người xuất gia của thời gian đức Phật còn tại thế.

Qua đó, nó cho chúng ta hiểu và biết được đời sống sinh hoạt và tu tập của vị xuất gia ở thời đại đức Thế Tôn còn tại thế, và cho đến nay Phật giáo đã diễn biến như thế nào. Nó là cơ sở để cho chúng ta hiểu được đâu là tinh thần giáo dục và đâu là hình thức giáo dục của đức Phật, chắn chắn chúng ta rút ra nhiều bài học quí giá từ quá khứ, đồng thời nó sẽ giúp cho chúng ta vững tâm hình thành một mô hình sinh hoạt, một phương pháp tu tập phù họp với đời sống hiện tại và nhu cầu của xã hội, và định hướng cho một loại hình sinh hoạt trong tương lai mà chúng ta không cảm thấy bỡ ngỡ trước sự thay đổi hình thức sinh hoạt của Phật pháp và sự biến thiên của xã hội, có được sự nhận thức như vậy, cuộc sống tu tập hằng ngày của chúng ta mới có hạnh phúc và an lạc. Với tinh thần đó, tôi sẽ cố gắng giới thiệu đời sống tu tập của người xuất gia trong đạo Phật gnuyên thuỷ, qua các kinh điển trong kinh tạng Nikàya và A hàm.

  1. Mục đích sống đời phạm hạnh của người xuất gia

Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ hai hệ thống kinh điển Nikaya và A hàm, chúng ta đều có một cái nhìn chung cho là, hai hệ thống kinh điển này đều xác nhận rằng: Mục đích duy nhất của người xuất gia là muốn thành đạt sự giác ngộ và giải thoát. Điều đó có nghĩa xác nhận rằng, vì chưa được giác ngộ muốn xuất gia để được giác ngộ, vì chưa được giải thoát muốn xuất gia để được giải thoát, nó không mang ý nghĩa trước khi tôi xuất gia đã giác ngộ và giải thoát, cho nên khi vừa mới xuất gia vừa xong liền liền lập chùa lập tự viện đi cứu độ chúng sanh. thử hỏi lấy gì để cứu ? Nói giúp đỡ người nghèo mà không có tài vật lấy gì để cứu ? Nói hoá độ chúng sanh mà tự thân Phật pháp không biết, kinh nghiệp tu tập không rành thì lấy gì để hoá độ ? Giả như, nếu có ý nguyện độ sanh đi chăng nữa, nó cũng chỉ xuất hiện sau khi xuất gia, trải qua thời gian tu tập, thành tựu được giới, thành tựu thiền định và trí tuệ xong, vị ấy mới phát nguyện độ sanh, hoặc tối thiểu là vị ấy phải hiểu rõ giáo lý của đức Phật, sau đó phát nguyện đem Phật pháp vì người khác giảng dạy thì điều đó còn có thể, bằng ngược lại thì ý niệm độ sanh không thành. Do vậy, nó không mang ý nghĩa đơn giản là xuất gia để độ sanh mà tự thân chẳng có một chút gì dính líu với Phật pháp cả, điều này đã dẫn đến có một số trường hợp có mộ số người sau khi xuất gia, thọ giới, không trải qua thời gian huấn luyện nếp sống của người phạm hạnh, không học tập Phật pháp, vội vã xây dựng cơ sở tôn giáo, thành lập cơ sở từ thiện xã hội, nôn nóng làm việc ‘độ tha’, trong khi đó bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia là giác ngộ giải thoát thì chưa hoàn thành, thậm chí Phật pháp chẳng biết gì cả, thế mà cứ ngang nhiên cho mình là người làm hạnh của người xuất gia, cứu giúp chúng sanh. Thế thì xin hỏi: lấy gì để độ sanh ? thật là vô lý khi tự nhận mình là thầy giáo, nhưng không biết chữ. Thật đáng buồn thay cho tinh thần Bồ tát hạnh, từ bi cứu độ chúng sanh của Phật giáo Đại thừa đã và đang bị lạm dụng một cách bữa bãi và vô ý thức. Đây là điểm mà các nhà lãnh đạo Phật giáo cần phải suy nghĩ.

Với mục đích xuất gia là tìm cầu sự giác ngộ và giải thoát, cho nên đức Phật đã hướng dẫn các đệ tử xuất gia của mình sống đời sống vô gia cư, tránh xa nơi thị thành là ồn ào náo nhiệt, tìm nơi thanh vắng như là rừng núi, bãi tha ma, hoặc nơi đồng trống để tu tập thiền định, quán chiếu bản chất của thế gian là vô thường, đồng thời lấy tinh thần ‘thiểu dục tri túc’ làm nguyên tắc cho cuộc sống tu tập. Có lẽ chính vì cuộc sống này cho nên đức Phật đã qui định cho một vị xuất gia cần phải có 3 điều kiện cơ bản để bảo vệ đời sống. Một là 3 y là y phục tỷ kheo phải có; Hai là bình bát là vật dụng cần thiết cho vị tỷ kheo để đựng thức ăn và uống; Ba là đồ lọc nước là vật dụng cần thiết cho vị Tỷ kheo khi sống đời sống di động trong rừng núi, khi gặp nước không sạch, cần phải thanh lọc cho sạch trước khi uống. Ba điều kiện này có thể nói là 3 điiều kiện rất hữu ích và thích nghi với đời sống di cư trong rừng núi ở thời đại xa xưa, nhưng nó không còn thích nghi với cuộc sống định cư, nhất là đời sống ở thời đại chúng ta. Cuộc sống này, vốn không phải riêng chỉ có Phật giáo mà hầu hết những người thực thi đời sống xuất gia của cácTôn giáo khác cũng đều sống như vậy. Có lẽ đức Phật nhận thấy cuộc sống này thật sự giúp ích cho người xuất gia mau thành đạt mục tiêu giác ngộ và giải thoát, cho nên đức Phật xem đó như là đời sống cần thiết cho người xuất gia trong xã hội thời bấy gi, vì nó là đời sống huấn luyện cho một người mới vừa từ đời sống gia đình đến đời sống không gia đình, một người mới vừa ra khỏi đời sống hưởng dục, thực tập đời sống ly dục, đoạn dục. Đời sống tịch mịch trong rừng núi, và sự cách ly các loại hưởng thọ những dục lạc thế gian là phương pháp cần thiết và thích đáng cho người mới xuất gia, như đức Phật đã tán thán hạnh xuất gia sống trong rừng núi được mô tả rất nhiều kinh trong “Kinh Trung Bộ”, như  ‘Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm’ (Bhayabheravasutta) số 4[3], ‘Kinh Khu Rừng’ (Vanapatthasutta)[4].v.v. Đức Phật cho rằng, sinh hoạt trong rừng núi của người xuất gia nhằm giúp cho hành giả mau thành đạt thánh quả, không có nghĩa là chỉ có cuộc sống rừng núi mới có sự giác ngộ và giải thoát, hai ý nghĩa này hoàn toàn khác nhau, không nên nhầm lần xem nó như một. Đồng thời, đời sống rừng núi là điều kiện tốt nhất giúp ta mau chóng từ bỏ các loại ham mê về vật chất, như ‘Kinh Thừa Tự Pháp’ (Dhammadàyàda sutta) trong “Kinh Trung Bộ” tập 1, đức Phật dạy rằng:

“Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Ngươi là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự Pháp, thì không những các Ngươi trở thành những người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”, mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: “Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự Pháp”.[5]

 Mặc dù trong thời gian đức Phật còn tại thế, đồ vật mà chư Tăng và đức Phật sở hữu chỉ đơn giản chỉ là y, bát, vật lọc nước và toạ cụ, nhưng đức Phật căn cứ lòng tham lam của con người và sự phát triển của Phật giáo, đức Phật dự đoán trong tương lai, khi sinh hoạt của Phật giáo trở thành định cư, những vật dụng cần thiết cho đời sống này cũng tuỳ theo đó mà tăng trưởng, như vậy thật khó cho vị xuất gia thoát khỏi miếng mồi của vật dục, Phật pháp cũng tuỳ theo đó mà tổn giảm, ánh sáng của chánh pháp cũng vì vậy mà dần dần lu mờ, không những làm hại chính mình mà còn làm tổn hại cho đạo pháp, làm thương tổn thanh danh đức Phật. Có lẽ đó chính là lý do tại sao đức Phật đã thuyết giảng bài pháp này.

Ngài Xá lợi Phất giải thích khổ đế trong giáo lý khổ đế bao gồm 8 loại khổ, ngoài 5 loại khổ đầu là sanh lão bệnh tử và ngũ ấm xí thạnh khổ là 5 điều khổ tự nhiên của con người, bất cứ ai cũng có ngay cả người đã đắc quả; Cầu bất đắc khổ, oán tắng hoại khổ và ái biệt ly khổ là những nổi khổ thuộc về tâm lý. Nguồn gốc của 3 loại khổ đau này là do vô minh, vì vô minh mà ta mong cầu những gì vượt tầm tay, vì vô minh mà ta không chấp nhận những gì mà thuộc về của ta, vì vô minh mà ta thích nắm bắt trì níu những gì mà nó không còn đủ yếu tố để tồn tại. Cái gì do vô minh làm tạo nên, muốn diệt trừ cái ấy, cũng phải từ vô minh mà diệt, có nghĩa là lấy trí tuệ để diệt trừ vô minh, đây là nguyên tắc cơ bản trong đạo Phật. Điều này mang ý nghĩa sâu sắc rằng, đạo Phật nói đến việc cứu giúp chúng sanh thoát ly cảnh khổ là đề cập đến góc độ khổ đau về mặt tâm lý, không phải là sự khổ đau về mặt tư nhiên hay giúp cho con người được giàu sang. Nếu như chúng ta đồng ý quan điểm này thì chúng ta nên làm nhiệm vụ, bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia, giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau bằng cách giúp họ làm khơi dậy đặc tính giác ngộ trong mỗi chúng sanh, chứ không phải chỉ là lời an ủi hay sự giới hạn của vật chất, đó là lý do tại sao đức Phật khuyên chúng ta nên làm nhiệm vụ chính mình. Nếu chúng ta tự xưng mình là trưởng tử của Như Lai thì chúng ta nên kế thừa sự nghiệp vĩ đại của ngài là hoằng truyền chánh pháp, không nên kế thừa tài vật, là những loại vật chất của thế gian, nếu ta không làm như vậy mà làm ngược lại thì đó là nguyên nhân để cho người trong thế gian có sự hiểu lầm chê cười đạo Phật, chê cười đoàn thể trong sáng và thanh tịnh của Tăng già, và đó cũng là nhân tố để giáo pháp của đức Phật càng ngày càng xa rời thế gian. Đây là điều mà mọi thành viên tăng già cần suy nghĩ.

  1. Các pháp tác thành vị sa môn

Liên quan đến đời sống phạm hạnh của một vị xuất gia theo ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahàssapura-sutta) trong “Kinh Trung Bộ” (Majjhima-Nikàya) tập 1, kinh số 39, đức Phật đã dạy các Tỷ kheo như sau:

“Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích.”[6]

.Theo tôi, nội dung và ý nghĩa của đoạn kinh vừa dẫn trên là đoạn kinh đức Phật nói về bổn phận và trách nhiệm của vị xuất gia theo đạo Phật. Từ Sa môn vốn là từ chung mà người Ấn độ chỉ cho các vị xuất gia sống đời sống phạm hạnh, nhưng ở trong kinh này từ này được đức Phật sử dụng là chỉ cho các Tỷ kheo và Tỷ kheo ni hay nói đúng hơn là những người xuất gia sống theo hạnh giác ngộ và giải thoát của Phật. Đức Phật khuyên các vị Tỷ kheo rằng, khi chúng ta tự thú nhận mình là Sa môn là đệ tử xuất gia theo đức Phật thì chúng ta phải làm tròn bổn phận và trách nhiệm hoàn thành tư cách của vị Tỷ kheo là đệ tử của đức Phật. Đức Phật là người có chủ trương lấy trí tuệ (panna) làm sự nghiệp, lấy thiền định làm làm phương để tiện tiến sâu vào tuệ giác, lấy giới luật làm tiêu chuẩn cho nếp sống đạo đức thì chúng ta cũng phải học tập và thực hành theo lời dạy của Ngài, các vị Tỷ kheo có làm như vậy thì bổn phận và trách nhiệm của vị tỷ kheo mới hoàn thành, tư cách của vị Tỷ kheo cũng từ đó mà có được, chúng ta sống trong giáo pháp của Phật cũng không trở thành vô dụng. Thế thì bổn phận và trách nhiện gì mà vị tỷ kheo mới làm ? Ngoài việc, vị Tỷ kheo là người xuất gia phải sống đời sống vô gia đình, sống độc cư ở những nơi thanh vắng, như rừng núi, nơi đồng trống…ăn một ngày một bữa, lấy hạnh khất thực để nuôi thân, vị ấy còn phải: 1). Thúc liễm thân tâm bằng giới hạnh, 2). Hộ trì các căn, 3). Tiết chế việc ăn uống, 4). Chú tâm cảnh giác, 5). Chánh niệm tỉnh giác, 6). Đoạn trừ 5 triền cái, 7). Thành tựu 4 thiền. Bảy pháp này là những yếu tố cần thiết để tác thành vị Tỷ kheo, cũng nhờ bảy pháp này vị Tỷ kheo thành đạt thánh quả A la hán. 7 pháp này chúng ta sẽ được tuần tự phân tích và giải thích như dưới đây.

1). Sống có giới hạnh

Trong quá khứ cách đây mấy nghìn năm, hoạt động tri thức của con người còn thấp, đời sống xã hội chưa văn minh còn lạc hậu, đời sống chính trị xã hội chưa hình thành luật pháp để quản lý con người, tự nhiên vai trò tôn giáo đóng vai trò khá quan trọng trong việc giữ gìn đời sống có trật tự của xã hội, kiềm chế sự phát triển bản tánh tự nhiên về tư dục của con người bằng cách ca ngợi đời sống đạo đức tiếc chế bản năng ham muốn vật dục của con người, hầu mong mang lại đời sống bình an hạnh phúc cho cá nhân mình và cho cả xã hội.

 Quan niệm đạo đức trong Phật giáo không giới hạn chỉ mang tính giải quyết vấn đề xã hội mà còn biểu thị tính đặc thù của đạo Phật là sự giác ngộ và giải thoát, vì tinh thần đạo đức hay giới luật của Phật giáo có mục đích hướng đến sự giác ngộ và giải thoát, không chỉ mang tính đạo đức của thế gian, cho nên nó tinh thần đạo đức hay giới luật của Phật giáo phải lấy tính vô tham vô sân và vô si làm cơ sở không phải là hình thức của giới điều. Như ‘Kinh Chánh Tri Kiến’ (Sammàditthi sutta) trong “Kinh Trung Bộ” đức Phật giải thích sự khác biệt rõ về hai khái niệm ‘thiện’ và ‘căn bản thiện'; ‘bất thiện’ và ‘căn bản bất thiện’ như sau:

“Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.”

“Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện”.

“Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện”.

“Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện”.

“Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện.”[7]

Qua nội dung ý nghĩa của đoạn kinh trên gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, khái niệm ‘thiện’ hay ‘bất thiện’ khác với khái niệm ‘căn bổn thiện’ hay ‘căn bổn bất thiện. Sự khác biệt này, đức Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy rõ vấn đề khác nhau giữa ‘hình thức’ và ‘tinh thần’. Hình thức là những gì được qui định một cách cụ thể, không phải là trừu tượng. Ví dụ như trong giới luật Phật giáo qui định một vị xuất gia trước khi muốn thọ giới Cụ túc hay còn gọi là thọ giới Tỷ kheo, vị ấy phải có 3 điều kiện cơ bản là: y, bát và đãy lọc nước (vật dụng lọc nước). Những qui định cụ thể này được căn cứ vào đời sống thật tế của những Tỷ kheo trong thời đức Phật còn tại thế, là cuộc sống vô gia cư, rày đây mai đó trong rừng núi, nuôi thân bằng phương tiện khấc thực, không phải là đời sống định cư. 3 điều kiện này trở thành vật không thể thiếu cho vị Tỷ kheo sống đời sống vô gia cư trong rừng núi, y áo để mặc, bình bát là vật dụng để đựng vật thực cúng dường bỡi thí chủ và đảy lọc nước để cho vị Tỷ kheo sống trong rừng núi, khi gặp nước tù, nước ao, khe, rạch…nước không trong sạch, cần phải được lọc sạch trước khi uống. 3 điều kiện này được đức Phật qui định nhằm để bảo vệ về đời sống cho vị Tỷ kheo để có sức khoẻ tu tập, nó không mang ý nghĩa vị tỷ kheo bắt buộc phải có 3 điều kiện này, nó chỉ có giá trị khi nào vị Tỷ kheo sống đời sống di cư, không nhà cửa, sống trong rừng núi, do vậy chúng ta không nên có quan niệm sai lầm cho rằng ăn bằng bình bát, mang đảy lọc nước mới gọi là tu… Chúng ta căn cứ vào đâu mà đưa ra quan điểm này ? Điểm mà chúng ta căn cứ chính là điểm mà đức Phật giải thích về ‘thiện” khác với ‘căn bản thiện‘ . ‘Thiện’ là những giới điều, đồng nghĩa với hình thức, ‘căn bản thiện’ là tính không tham không sân và không si, là tinh thần của Phật giáo. Hình thức được thiết lập phải dựa vào tinh thần, nhưng hình thức là cái tuỳ thời tuỳ cơ mà thiết lập, như vậy hình thức là cái giới hạn bỡi thời gian và không gian; tinh thần là cái vô hạn, là cái không bị giới hạn bỡi không gian và thời gian, cái gì bị giới hạn bỡi thời gian và không gian cái đó không phải là chân lý; cái gì không bị giới hạn là cái chân lý. Như vậy, cái gì có giá trị khi yếu tố nhân duyên còn thì cái ấy cũng sẽ trở thành vô dụng khi nhân duyên của nó không còn. Cũng giống như vậy, trong giới luật của nhà Phật có khá nhiều giới điều được thiết lập mang tính tuỳ thời, tuỳ nơi, tuỳ căn cơ, khi bối cảnh của nó không còn nữa thì hình thức giới điều đó sẽ không còn giá trị nữa, dù chúng ta có nghĩ như thế này hoặc thế kia, sự thật vẫn là sự thật. thế nhưng chúng ta cần chú ý một điều dẫu rằng, hình thức của giới điều không còn giá trị nữa, nhưng tinh thần của nó chắn chắn có giá trị muôn đời, vì giới điều được thiết lập căn cứ vào tính vô tham vô sân và vô si. Đây chính là ý nghĩa câu: ‘Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết’ hay trong kinh điển của Phật giáo Đại thừa đức Phật đã nói: ’49 năm ta không nói lời nào’. Tại sao 3 tạng kinh điển do ngài giảng dạy, thế mà ngài phủ nhận, vì tất cả chúng đều là hình tướng mang tính tuỳ thời, tuỳ nơi, tuỳ căn cơ khác nhau mà nói, chúng ta không nên căn cứ vào đó mà cho rằng đức Phật như thế này hay thế kia. Điều mà ngài muốn nói chính là ý tứ bên trong của ngôn ngữ hình thức ấy,nếu chúng ta muốn biết tinh thần giáo dục của đức Phật, chúng ta không thể tự mình suy diễn mà phải căn cứ vào những hình thức thức này để giác ngộ ý tứ đức Phật giảng dạy.

Trở lại vấn đề mà chúng ta đang thảo luận. Thế nào gọi là sống có giới hạnh ? Theo tinh thần của kinh điển Nikàya, đức Phật giải thích cuộc sống có giới hạnh là cuộc sống biết tàm quí, sống với 3 nghiệp thanh tịnh và mạng sống thanh tịnh, như vậy được gọi là đời sống có giới hạnh. Trước hết chúng ta tìm hiểu ý nghĩa ‘tàm quí’ được đức Phật giải thích như thế nào.

  1. Biết tàm quí

Tàm quí’ có nghĩa là biết hổ thẹn, có nghĩa là khi chúng ta làm một việc sai lầm nào, chúng ta phải biết hổ thẹn về việc sai lầm đó, có thái độ ăn năn muốn hối cải tội lỗi đó. Vì tính chất của nó như vậy, cho nên trong tiến trình tu tập của Phật giáo, đức Phật lấy đức tính tàm quí làm điều kiện đầu tiên trong pháp tác thành tư cách của một vị xuất gia. Như trong ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahà -Assapura-sutta) đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập.”[8]

Nội dung đoạn kinh này đức Phật cho rằng, nguyên tắc thứ nhất để tác thành Sa môn là ‘biết tàm quí’. Tại sao đức Phật lại lấy pháp này làm nền tảng cho việc tu tập ? Theo ý nghĩa của pháp tàm quí là ‘biết hổ thẹn’ những lỗi lầm của mình. Từ ý nghĩa này chúng ta tiến hành phân tích nó liên hệ gì với quá trình tu tập của chúng ta. Nếu chúng ta đồng ý quan niệm tu tập trong Phật giáo là sự sửa đổi của 3 hành nghiệp: thân nghiệp khẩu nghiệp và ý nghiệp. Nếu chúng ta định nghĩa tu là ‘sửa’ thì chúng ta cần phải biết rõ không những chỉ có điều sai mà ngay cả điều đúng, khi chúng ta đã biết được giữa điểm sai và đúng thì chúng ta mới sửa điều sai thành điều đúng, nếu chúng ta nói tu mà không biết việc gì là việc sai và việc gì là việc đúng thì ý nghĩa tu tập không thành. Điều đó có nghĩa là trước khi chúng ta ‘tu’ chúng ta cần phải ‘biết’ chứ không phải là ‘không biết’. Ở đây đức Phật cho rằng pháp tác thành vị sa môn là ‘thành tựu tàm quí’ hay ‘biết tàm quí’ có nghĩa là biết việc sai lầm của mình, khi biết việc sai lầm của mình, nhưng với tâm tư bướn bỉnh hay cố tình che dấu tội lỗi của mình và không cảm thấy hổ thẹn xấu xa với việc sai lầm đó, trạng thái tâm lý như vậy là ‘không biết tàm quí’. Trạng thái tâm lý không biết hổ thẹn là thái độ không muốn sửa sai lỗi lầm của mình, là vật chướng ngại cho các thiện pháp phát sinh, một tâm tư không có những hạt giống thiện pháp chỉ có những mầm mống của tham lam sân hận và si mê, điều đó biểu lộ một tâm hồn không có an lạc và hạnh phúc, một tâm hồn như vậy là tâm hồn không có ‘tu tập’, không phải có tu tập cho dù hằng ngày người ấy hằng ngày niệm hằng ngàn danh hiệu Phật, lạy bao nhiêu lạy, tụng mấy bộ kinh.

Ngược lại, người biết hổ thẹn là người không những chỉ biết việc làm sai của mình mà còn có thái độ hổ thẹn sám hối và muốn sửa sai lỗi lầm của mình. Với một tâm tư như vậy, người ấy chắc chắn sẽ tiến bộ, từng phút từng giây gội sạch tâm tư bất thiện của mình, những hạt giống thiện pháp luôn luôn đua nhau đua nở, vì tâm tư biết hổ thẹn là bức tường ngăn chận pháp bất thiện xâm nhập vào thân tâm của vị ấy, nó cũng là điều kiện tốt cho hạt giống bồ đề sanh khởi. Tính quan trọng của lòng biết hổ thẹn như vậy cho nên trong kinh này đức Phật lấy nó là nguyên tắc đầu tiên cho tiến trình tu tập hay pháp tác thành vị Sa môn. Đó cũng là lý do tại sao đức Phật khuyên Ngài Rahula (La Hầu La):

“Này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”, này Rahula, Ông phải học tập như vậy.”[9].

Lời dạy này, đức Phật cản báo cho chúng ta biết rằng, người nào làm việc sai lầm mà tự mình không biết hổ thẹn thì người đó không việc ác nào làm không được. Ví như chiếc áo màu đen nhơ nhớp và cũ kỹ, nếu như chiếc áo đó có dính bụi nhơ gì, cũng không vì vậy nó khiến cho ta cảm thấy khó chịu, vì tâm tư người đó nghĩ rằng, chiếc áo này đã nhơ cũ, có dính bụi cũng không sao. Như vậy chiếc áo này tha hồ mà dình bụi. Cũng vậy, một người làm việc ác mà không biết hổ thẹn về hành vi sai trái của mình, tâm tư được huấn luyện như vậy, đến một lúc nào đó tâm tư của người ấy cảm thấy bình thường khi làm việc ác; Một việc ác nhỏ nếu chúng ta cảm thấy bình thường không cảm thấy hổ thẹn dần dần thành thói quen, người ấy sẽ làm việc ác lớn hơn, tày trời hơn. Đó là lý do tại sao đức Phật dạy Rahuala rằng: ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Đây cũng chính là ý nghĩa trong kinh này đức Phật lấy pháp biết tàm quí làm pháp đầu tiên cho pháp tác thành vị Tỷ kheo.

  1. 3 nghiệp thanh tịnh

 Pháp thứ hai của pháp ‘Sống có giới hạnh‘ là 3 nghiệp thanh tịnh. Trong Phật giáo Đại thừa có câu ‘chúng sanh có tám muôn bốn ngàn phiền não, Phật cũng có tám muôn bốn ngàn pháp môn tu tập’. Thật ra, sự tu tập trong Phật giáo chỉ đơn giản là sự sửa đổi hay chuyển hoá 3 nghiệp là thân khẩu và ý. Thân nghiệp là những hành vi thuộc về thân; khẩu nghiệp là những hành vi thuộc về miệng; ý nghiệp là những hành nghiệp thuộc về lãnh vực của ý thức. Những hành vi trong cuộc sống hằng ngày của con người chúng ta không vượt ra ngoài 3 lãnh vực này, nếu chúng ta không thể hiện bằng thân thì thể hiện bằng miệng và trước khi thể hiện ở nơi thân hoặc miệng ý thức đắn đo suy nghĩ tính toán. Việc ác từ đây mà sinh, việc thiện cũng từ đây mà có; khổ đau do nghiệp mà tạo, hạnh phúc cũng do nghiệp mà thành. Như vậy toàn thể hoạt dụng hằng ngày của chúng ta không việc gì vượt ra ngoài 3 nghiệp. Có lẽ đó chính là lý do tại sao đức Phật khuyên chúng ta nên làm cho 3 nghiệp được thanh tịnh.

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh…. Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh….Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu”.[10]

Chữ ‘thanh tịnh’ ở đây, chúng ta không nên hiểu nhầm đức Phật khuyên chúng ta thânkhông nên làm việc, miệng không được nói chuyện, ý không được suy nghĩ mà đức Phật khuyên chúng ta thân nên làm việc đúng, việc thiện, miệng nên nói chuyện họp thời hợp lý[11] và ý nên suy nghĩ theo nguyên tắc ‘như lý tác ý’[12], có nghĩa là đạo lý của sự vật như thế nào thì nên suy nghĩ nói năng và hành xử như thế ấy, không phải  là sự suy tư của tưởng tượng, nói năng sai sự thật và hành không đúng. Chuyên đề giải thích về phương pháp tu tập 3 nghiệp trong ‘Kinh Giáo Giới Rahula’ trong “Trung Bộ Kinh” đức Phật phân tích rất ràng. Phương pháp phân tích 3 nghiệp của kinh này, đức Phật căn cứ vào 3 móc thời gian là vị lai hiện tại và quá khứ để phân tích về 3 nghiệp là thân khẩu và ý. Do vậy, nơi chúng ta tìm hiểu nội dung và ý nghĩa của kinh này cũng theo trật tự này.

b1. Đối với thân nghiệp muốn làm (sẽ làm)

Trước hết là thân nghiệp muốn làm, trong ‘Kinh Giáo Giới Rahula’ (Ambalatthik à R àhulov àda sutta) đức Phật phân tích như sau:

“Này Rahula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”…Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm. Này Rahula, nếu sau khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp này ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm. “[13]

  Đức Phật khuyên chúng ta muốn làm (sẽ làm) một việc gì thuộc về thân, trước hết chúng ta hãy xem xét đắn đo suy nghĩ việc ấy thật rõ ràng, sau khi suy nghĩ nếu cảm thấy việc ấy là việc bất thiện, nó sẽ mang lại sự khổ đau cho mình cho người, cho cả hai thì chúng ta không nên làm việc ấy. Ngược lại, nếu cảm thấy việc muốn làm ấy là việc thiện, nó mang lại sự an lạc cho mình cho người, cho cả hai thì chúng ta nên làm việc ấy.

b2. Đối với thân nghiệp đang làm

Kế đến là thân nghiệp đang làm cũng trong kinh này, đức Phật phân tích như sau:

“Này Rahula, khi Ông đang làm một thân nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ; đem đến quả báo đau khổ….Này Rahula, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy. Nhưng nếu, này Rahula, trong khi phản tỉnh ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.“[14] .

Cũng vậy, khi chúng ta đang làm một thân nghiệp gì, cần phải phản tỉnh xem xét việc ấy, sau khi phản tỉnh biết việc ấy là bất thiện, nếu tiếp tục làm, nó sẽ mang lại khổ đau cho mình, cho người và cho cả hai, chúng ta cần từ bỏ không tiếp tục làm. Ngược lại, sau khi phản tỉnh, biết được việc ấy là việc thiện, nếu làm nó sẽ mang lại sự hạnh phúc an lạc cho mình, cho người cho cả hai thì việc ấy chúng ta nên tiếp tục làm.

b3. Đối với thân nghiệp đã làm

Tiếp theo là thân nghiệp đã làm, cũng trong ‘Kinh Giáo Giới Rahula’ đức Phật giải thích như sau:

“Sau khi Ông làm xong một thân nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. ….Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.“[15]

Đối với một sự việc đã làm xong, cần phải phản tỉnh xem xét việc đã làm ấy, nếu như biết rõ việc đã làm đưa đến tự hại, hại người hại cả hai, đó là việc bất thiện. Một thân nghiệp như vậy, chúng ta cần phải đến trước vị đạo sư hay là người thầy có trí trình bày việc sai lầm đã làm của mình và tỏ thái độ thật sự muốn ăn năn sám hối, không tái phạm. Ngược lại, sau khi phản tỉnh rõ biết việc ta đã làm không hại mình, hại người và hại cả hai. Thân nghiệp này là thân nghiệp thiện, chúng ta nên hoan hỷ và tiếp tục làm những việc làm như vậy.

 Đây là thân nghiệp của 3 thời gian đã được đức Phật giải thích một cách rất tường tận. Kế đến là khẩu nghiệp và ý nghiệp. Theo sự trình bày của kinh này, đức Phật giải thích về khẩn nghiệp và ý nghiệp cũng căn cứ vào 3 móc thời gian là khẩu và ý nghiệp dự định sẽ thực hiện; khẩu và ý nghiệp đang thực hiện; và khẩu và ý nghiệp đã thực hiện, cách giải thích của 2 gnhiệp này cũng giống như thân nghiệp, chỉ khác ở điểm là thay vào chữ ‘thân nghiệp’ bằng chữ ‘khẩu hay ý nghiệp’, để tránh sự trùng lập, do vậy nơi đây tôi tiếp tục giải thích.

Qua nội dung và ý nghĩa của việc phản tỉnh 3 nghiệp, nó gợi cho chúng ta nhận thức điều quan trọng rằng, phương pháp tu tập trong kinh này rất là cụ thể và rất rõ ràng, không mơ hồ trừu tượng, bất cứ ai cũng hiểu được và bất cứ ai cũng làm được. Nếu như các vị tỷ kheo mỗi ngày thường phản tỉnh về 3 nghiệp thì 3 nghiệp chắc chắn sẽ được thanh tịnh, sống đời sống xuất gia không trở thành vô dụng, tư cách của vị Tỷ kheo cũng nhờ đây mà thành tựu, làm gương sáng cho đời. Với tư cách như vậy, chắn chắn người thế tục không những không khinh khi vị ấy mà còn tán dương khen ngợi, Phật pháp cũng nhờ như vậy càng ngày chói sáng ở thế gian.

Nếu chúng ta là người cư sĩ tại, thực hành phương pháp tu tập bằng cách phản tỉnh 3 nghiệp này, chắn chắn chúng ta sẽ trở thành một người tốt trong gia đình, trong xã hội. Trong công việc làm ăn của chúng ta cũng nhờ sự phản tỉnh kiểm tra hằng ngày mà ta biết được nguyên nhân nào đưa đến thất bại và nguyên nhân nào đưa đến thành cống. Chúng ta là một con người tốt trong gia đình và trong xã hội, việc làm ăn của chúng ta càng ngày càng tốt, vô lý chúng ta lại khổ đau và phiền muộn, ngược lại người ấy sẽ có nhiều bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

  1. Mạng sống thanh tịnh

 Pháp thứ hai của pháp ‘Sống có giới hạnh‘ là mạng sống thanh tịnh. Ở đây, nội dung và ý nghĩa của từ này chỉ cho cách sống của Tỷ kheo phải được thanh tịnh. Liên quan đến mạng sống thanh tịnh trong ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahà -Assapura-sutta) đức Phật dạy:

Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu.[16]

Theo đức Phật, người xuất gia là người sống có ý thức, cảm nhận cuộc đời là giả tạm, nhiều khổ đau, cho nên người ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, với chí nguyện mong cầu sự giác ngộ và giải thoát. Vì mục đích để đáp ứng hoàn thiện mục đích cao cả này, troing thời đức Phật sòn tại thế, đức Phật đã qui định người xuất gia nên lấy tinh thần ‘thiểu dục tri túc’ làm tiểu chuẩn, và nuôi thân bằng đời sống  khấc thực, xem việc ăn uống như là sự giữ gìn sức khoẻ để tiến tu đạo nghiệp, không phải vì ngon miệng, vì những mục đích không chính đáng. Thế nhưng, khi Phật giáo càng ngày càng phát triển, số lượng tăng già càng ngày càng đông, nhất là Phật giáo được sự đồng tình ủng hộ của nhà vua và những người giàu có, những người xuất gia với mục đích không chân chính cũng theo đó mà gia nhập trong tăng đoàn, sống với cuộc sống trụy lạc, lợi dụng hình tướng xuất gia để trục lợi cá nhân, hoặc không sống bằng đời sống khấc thực nuôi thân mà sống bằng các nghề nghiệp bất chính, như là xem bói, xem tướng, xin xăm…và ngày nay còn phát sinh nhiều nghề nghiệp còn tồi tệ hơn nữa. Là người xuất gia sống với nghề nghiệp như vậy, đức Phật gọi đó là ‘tà mạng’ không chân chính, không thích nghi với đời sống của một người xuất gia, trái lại tinh thần xuất gia của mình, hơn nữa với cuộc sống như vậy, nó làm chướng ngại cho mục tiêu giác ngộ và giải thoát của mình.

2). Hộ trì các căn

Trong các pháp tác thành vị Sa môn, pháp thứ hai là ‘hộ trì các căn‘. Liên hệ đến pháp tu tập này, trong kinh điển A hàm hay Nikàya có rất nhiều kinh đề cập đến pháp tu hộ trì các căn này. Ở đây vì tính chất thống nhất giải thích tiến trình tu tập trong kinh ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’, cho nên cần phải căn cứ cách giải thích của bài kinh này, trong khi phân tích nếu có điểm nào chưa rõ chúng ta sẽ vận dụng những kinh khác để làm sáng tỏ vấn đề. Theo ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahà -Assapura-sutta) giải thích ý nghĩa ‘hộ trì các căn’ như sau:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập.”[17]

 Nội dung và ý nghĩa đoạn kinh vừa dẫn trên, đức Phật khuyên các vị Tỷ kheo cần phải hộ trì các căn. Ở đây, từ ‘các căn’ tức chỉ cho 6 căn, tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn. 5 căn đầu là những cơ quan tiếp xúc thế giới bên ngoài, như nhãn căn là cơ quan để tiếp xúc các loại hình sắc, nhĩ căn là cơ quan tiếp xúc các loại âm thanh, tỷ căn là cơ quan tiếp xúc các loại mùi hương, thiệt căn là cơ quan tiếp xúc các vị ngon ngọt, thân căn là cơ quan tiếp xúc các loại cảm xúc của thân, và ý căn là cơ quan tiếp xúc các pháp là những hình ảnh chụp lại từ 5 trần là thế giới bên ngoài, nói một các đơn giản là pháp xứ là đối tượng nhận thức của ý thức trong 12 xứ.

Ở đây đức Phật khuyên các vị Tỷ kheo: “Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt.” Nội dung và ý nghĩa lời dạy này, đức Phật khuyên các vị Tỷ kheo cần phải ‘hộ trì con mắt’. Ở đây chúng ta nên hiểu rằng, sự hộ trì con mắt không có nghĩa là gìn giữ con mắt không để cho nó bị bịnh mà không để cho tâm sanh khởi lòng sân hận hay tham lam mỗi khi chúng ta đối diện với sắc pháp, vì sắc có hai loại là sắc đẹp và sắc xấu, khi mắt chúng ta nhìn thấy đối tượng là sắc đẹp thì tâm liền sanh tham ái đam mê sắc đẹp ấy, khi tâm đã sanh tham ái thì tâm của chúng ta dừng lại ở đó mà tâm muốn chiếm đoạt sắc đẹp ấy thuộc về của riêng mình, như vậy các trạng thái khổ đau liền theo đó mà phát sinh; Ngược lại, nếu mắt của chúng ta nhìn thấy những đối tượng là sắc xấu, là những đối tượng  mà ta không muốn nhìn, nhưng chúng ta vẫn phải nhìn vẫn phải đối diện với nó, do vậy các trạng thái khổ đau cũng tuỳ theo đó mà sanh khởi. Đây chính là ý nghĩa mà đức Phật khuyên các vị tỷ kheo, không nên nắn giữ tướng chung, tướng riêng, và những nguyên nhân gì khiến cho tham ái khởi lên, chúng ta cần phải chế ngự những nguyên nhân ấy.

Ngoài ra, khi tai nghe tiếng, mũi ngưởi mùi hương, lưỡi nếm các vị, thân cảm xúc các loại cứng mềm cũng mang ý nghĩa như vậy.

Thế thì chúng ta bằng cách nào để ngăn chận lòng tham ái khi gặp đối tượng mà mình ưa thích, cũng như lòng sân hận khi gặp đối tượng không thích ? Phải chăng chúng ta không nhìn sắc, không nghe tiếng, không ngưởi mùi vị, không nếm các vị, thân không xúc chạm ? Với vị trí là con người và con người bình thường không bị bịnh tâm thần thì bất cứ ai cũng muốn sống, khi đã muốn sống thì 6 căn của người ấy phải hoạt động, phải tiếp xúc với 6 trần. Tiếp xúc như thế nào mới là vấn đề, nói lên sự khác nhau giữa người hiểu biết và không hiểu biết hay nói theo từ chuyên môn của nhà Phật gọi là có trí tuệ và không có trí tuệ. Người có trí tuệ là người khi tiếp xúc với 6 trần, tức sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp không bị chúng làm cho tâm vị ấy không bị dao động, và ngược lại người không có trí tuệ, khi người ấy tiếp xúc với 6 trần liền bị 6 trần lôi cuốn và dao động tâm tư vị ấy. Như vậy vấn đề chính ở đây chính là có trí tuệ hoặc không có trí tuệ. Thế thì như thế nào gọi là trí tuệ ? Để trả lời câu hỏi này, ở đây chúng ta vay mượn lời vấn đáp giữa đức Phật và Aggivessana để làm sáng tỏ vấn đề:

- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

- Vô thường, Tôn giả Gotama.- Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

- Là khổ, Tôn giả Gotama.

 – Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

- Thưa không, Tôn giả Gotama.- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thọ… (như trên)… tưởng… (như trên)… các hành… (như trên)… Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường?

- Vô thường, Tôn giả Gotama.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, Tôn giả Gotama.

- Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

- Thưa không, Tôn giả Gotama.[18]

Qua nội dung lời vấn đáp này, nó gợi ý cho chúng ta nhận thức một điều, bản chất của các sắc pháp, các âm thanh, các vị, các hương, các xúc vá các pháp là vô thường là sanh diệt, không một pháp nào là pháp không sanh diệt, vì sự hình thành của chúng vốn là do nhân duyên hợp lại, khi nhân duyên không còn nữa thì chúng liền tan rã, khi nhân duyên còn thì chúng phải tồn tại, như vậy trên ý thức của ta có mong muốn nó tồn tại, nó không thể tồn tại, vì nhân duyên không còn nữa. Cũng vậy, ý thức chúng ta có mong cầu chúng biến mất, chúng cũng không thể biến mất, vì nhân duyên của chúng vẫn còn. Như vậy cái gì mà chúng ta muốn mà không được sanh ra khổ, và cái gì chúng ta không thích mà nó vẫn tồn tại cũng sanh ra khổ. Chúng ta muốn dứt trừ những nổi khổ này, chỉ có cách chúng ta phải nhận thức đúng đắng bản chất của sự vật, là duyên khởi là vô thường. Nếu chúng ta có được sự nhận thức như vậy, khi đối diện với đối tượng đẹp, chúng ta sẽ không vì sắc đẹp quyến rủ, dao động tâm tư, và khi chúng ta đối diện với sắc xấu cũng không vì vậy mà tâm sanh giận hờn. Đây chính là ý nghĩa của pháp thứ hai là Hộ trì các căn đã được đức Phật trình bày trong kinh này.

3). Tiết chế việc ăn uống

Pháp thứ 3 để tác thành vị sa môn là sự ‘Tiết chế việc ăn uống’. Liên quan đến vấn đề này theo ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahà -Assapura-sutta) được đức Phật giải thích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh…. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập.”[19]

Nội dung và ý nghĩa đoạn kinh này, đức Phật khuyên các vị tỷ kheo cần phải tiết chế việc ăn uống. Theo tôi có mấy nguyên nhân khiến cho đức Phật khuyên các vị tỷ kheo cần phải tiết chế việc ăn uống. Thứ nhất, phương pháp tu tập của chư tăng lúc bấy giớ là tu tập thiền định, nếu như ban chiều ăn quá no sẽ gây chướng ngại cho việc ngồi thiền, dễ sanh hôn trầm, tức dễ buồn ngủ; Thứ hai, đời sống Tăng già lúc Phật còn tại thế là đời sống trong rừng núi, cách xa làng xóm, do vậy việc khấc thực rất rất bất tiện; Thứ ba, vì xã hội đương thời không phải là một xã hội có đời sống kinh tế cao, mà là đời sống nông nghiệp lạc hậu, hơn nữa đời sống tăng già hoàn toàn đều nương nhờ vào sự cúng dường của thí chủ, cho nên các vị Tỷ kheo cần tiết chế việc ăn uống, tránh bớt sự phiền hà cho người Phật tử tại gia, cho nên người xuất gia chỉ ăn một ngày một bữa vào giữa trưa. Hơn nữa, Phật gíao xem vấn đề ăn uống rất nhẹ nhàn, xem việc ăn uống như là việc uống thuốc, để duy trì thân mạng, vì thân mạng này được ví như chiếc thuyền để vượt qua bến giác ngộ, do vậy việc ăn uống của người xuất không giống như là người thế tục, không phải vì đam mê, vì bổ dưỡng, vì trang sức…mà ăn uống để sống để tu tập.

Đời sống xuất gia trong thời đức Phật so với đời sống bây giờ có khác đi nhiều, trong những yếu tố khuyên người xuất gia tiết chế việc ăn uống trong đó có yếu tố vì đời sống kinh tế xã hội còn thấp, tất nhiên với yếu tố này so với thời đại chúng ta thì ngược lại, nhất là đời sống ở những nước giàu có như các nước Phương tây, có nghĩa là chúng ta không nên quá cố chấp vào hình thức này. Thế nhưng, ở thời đại của chúng ta vì quá dư thừa vật chất lại phát sinh một vấn đề khác, cái khổ của ngày hôm nay không phải là thiếu ăn mà là dư ăn. Vật thực quá thừa thãi, ăn uống quá nhiều, cơ thể của con người sanh nhiều chứng bịnh được xuất hiện từ sự ăn uống quá nhiều, như bịnh tiểu đường, trong đó bịnh béo phì đã đến lúc báo động. Qua những thực tế từ xã hội, nó gợi ý cho chúng ta nhận thức rằng, lời khuyên của đức Phật về sự tiết chế việc ăn uống không phải là không có lý.

Ở trong thời đại chúng ta, nếu như người xuất gia nào biết tiết độ trong việc ăn uống, vị ấy chắc chắn giảm nhiều bịnh tật từ ăn uống, có thân thể khoẻ mạnh, việc tu tập cho bản thân và thực thi nhiệm vụ hoằng dương Phật pháp tốt hơn là người có bịnh tật; Người Phật tử tại gia nếu biết tiết chế việc ăn uống thì thân thể sẽ mạnh khoẻ, tu tập cũng sẽ thuận duyên hơn tinh tấn hơn.

4). Chú tâm cảnh giác

Pháp tác thành vị Sa môn thứ 4 là ‘chú tâm cảnh giác‘. Pháp này nhằm mục đích giúp hành giả rèn luyện cho tâm luôn luôn chú ý đến mọi hành vi cử chỉ của mình, và cảnh giác không cho những ác bất thiện pháp xâm nhập vào thân tâm của vị ấy. Nhờtâm đã ‘chú tâm cảnh giác, hành giả mới có thể tiến lên một bước nữa là ‘chánh niệm tỉnh giác’, với mục đích để dễ dàng nhập vào 4 thiền. Liên quan đến ‘chú tâm cảng giác’, trong ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ (Mahà -Assapura-sutta) này, đức Phật giải thích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày khi đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một khi đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập.”[20]

Trong kinh này đức Phật mô tả về trạng thái ‘chú tâm cảnh giác’ là : Bất luận ban ngày hay ban đêm , khi vị Tỷ kheo đi kinh hành, trong lúc ngồi hay trong lúc nằm tâm tư cần phải chú tâm cảnh giác, các ác bất thiện pháp nào khởi lên, các pháp chướng ngại nào khởi lên cần phải tẩy sạch, giữ tâm luôn luôn được thanh tịnh.

Có thể nói đây là một trong những biện pháp cơ bản để huấn luyện cho vị Tỷ kheo tu tập thiền định. Vì khi tu tập thiền định là lúc vị Tỷ kheo đóng hết cả 5 giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, chỉ cón một giác quan hoạt động đó là ý căn, cho nên nó hoạt động rất mạnh, giống như giòng thát nước đang tuôn chảy, tất cả những hình ảnh gì trước đây được lưu giữ lại trong tâm hay pháp xứ (Duy thức gọi là A lại da thức) thì nó tuôn trào xuất hiện, làm cho tâm tán loạn, cản trở tâm không được chuyên chú, do vì trong cuộc sống hằng ngày của Tỷ kheo ấy không được huấn luyện, làm cho tâm có sự chú ý. Hành giả khi ngồi thiền muốn cho tâm không bị tán loạn, tâm dong ruổi theo 6 trần, biện pháp tốt nhất hằng ngày phải huấn luyện tâm, có nghĩa là không phải đợi đến lúc toạ thiền mà trước tiên phải huấn luyện cho tâm có sự chú ý. Trong cuộc sống hằng ngày tâm đã được huấn luyện thuần thục, như vậy khi ngồi thiền, vị ấy cũng dễ dàng cột tâm vào một đối tượng nào đó mà vị ấy muốn quán tưởng. Đây là ý nghĩa của pháp ‘chú tâm cảnh giác’.

5). Chánh niệm tỉnh giác

Pháp tác thành Sa môn thứ 5 là ‘chánh niệm tỉnh giác‘. Pháp này nhằm mục đích giúp cho vị tỷ kheo luôn luôn ở trong chánh niệm và tỉnh giác, nhờ pháp này mà Tỷ kheo dễ tiến vào thiền định. Pháp này được ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ giải thích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập.”[21]

 Nếu như pháp ‘chú tâm cảnh giác‘ là pháp giúp cho hành giả luôn luôn sống trong trạng thái chú tâm và cảnh giác, theo dõi và kiểm soát tâm, nếu thấy thân tâm  xuất hiện những pháp bất thiện nào liền tẩy trừ ngay pháp ấy thì ở đây pháp ‘chánh niệm tỉnh giác’ chủ yếu giúp cho hành giả luôn luôn sống trong chánh niệm và tỉnh giác. Thế nào là chánh niệm tỉnh giác ? Chữ ‘chánh niệm’ ngoài ý nghĩa sống trong ý niệm chơn chánh luôn luôn liên hệ với tâm không tham lam sân hận và si mê, nó còn mang ý nghĩa là cột chặc tâm tư trên đối tượng, không để cho tâm tán loạn, hành vi không cho tâm tán loạn này là ‘tỉnh giác’, có nghĩa là làm việc gì biết rõ việc ấy, cho nên trong kinh mô tả là khi đi đứng nàm ngồi, nhìn tới, nhìn lui, khi co tay duỗi tay…đều tỉnh giác. Vì mục đính của pháp’ chánh niệm tỉnh giác’ là giúp cho hành giả tiến sâu vào thiền định và có xu hướng làm cho hành giả triển khai trí tuệ, giác ngộ thật tướng của các pháp, hay nói một cách khác là khiến cho hành giả sống trong ‘như lý tác ý‘, để thành đạt sự giác ngộ và giải thoát.

    Nếu Tỷ kheo nào thực hành pháp ‘chánh niệm tỉnh giác’ vị ấy chắc chắn sống với tâm sáng suốt và việc làm rất minh chính, Phật pháp cũng nhờ vậy mà không tuyệt diệt. Nếu là Phật tử tại gia sống trong gia đình hành pháp này chắc chắc cũng có nhiều lợi ích, không những trong tâm tư vị ấy luôn luôn được an lạc mà còn làm cho cuộc sống gia đình càng thêm hạnh phúc hơn, có niềm tin hơn.

6). Đoạn trừ 5 triền cái

Pháp tác thành vị Sa môn thứ 6 là ‘Đoạn trừ 5 triền cái’, là những pháp làm chướng ngại hành giả tu tập thiền định, đó là 1. tham lam, 2. sân hận, 3. hôn trầm thuỵ miên, 4. trạo cử, 5. nghi ngờ. 5 pháp này được ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ giải thích như sau:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.”[22]

Sau khi đã thành tựu ‘chú tâm cảnh giác’, ‘chánh niệm tỉnh giác’, Trước nhất Tỷ kheo cần phải tìm nơi thật thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.  Tại sao vị Tỷ kheo cần phải lựa nơi thanh vắng như vậy ? Vì thông thường 5 giác quan là mắt, tai mũi, lưỡi, thân của chúng ta dong ruỗi theo 5 cảnh là sắc, thinh, hương, vị và xúc. Sự dong ruỗi này đã thành một tập quán thường ngày của chúng ta, do vậy rất khó cho hành giả sống nơi ồn ào để tu tập thiền định, tâm tư dể bị tán loạn khó nhiếp phục, đó là lý do tại sao đức Phật khuyên hành giả tu thiền cần phải tìm nơi vắng vẻ, vì nơi đó cảnh đã vắng lặng, không có tiếng ồn, rất dễ cho việc nhiếp tâm, và khi tâm đã nhiếp ở trong thiền định cũng không vì tiếng ồn ào mà làm cho tâm của vị ấy bị khuấy nhiễn sanh tán loạn.

Sau khi tìm chỗ thích hợp thanh vắng xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Có thể nói, đây là tư thế toạ thiền tốt nhất trong Phật giáo. Kiết già là một tư thế ngồi thiền tương đối ổn định nhất trong các tư thế khác, hai bàn chân bắt tréo nhau, như hai sợi giây mây đan bện lại với nhau, trông rất vững, mau huyết cũng dễ dàng lưu thông; Lưng thẳng, đầu hơi nghiêng cuối xuống với đôi mắt nửa nhắm nửa mở, và cột niệm trước mặt. Đây là cách ngồi thiền để cho thân không mõi mệt, tránh bệnh tật, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tâm an trú lâu trong thiền định được lâu dài.

Sau khi lựa nơi thanh vắng, ngồi kiết già và an trú niệm trước mặt xong, vị ấy tiến sâu vào thiền định, quán chiếu thấy được thật tướng của con người và thế gian là vô thường và vô ngã, cho nên tâm của vị ấy từ bỏ triền cái thứ nhất là lòng tham ái, sống với tâm không tham ái; Từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, ngược lại có lòng từ mẫn đối với tất cả chúng hữu tình; Từ bỏ trạng thái hôn trầm thụy miên, sống không hôn trầm và thụy miên, ngược lại có chánh niệm tỉnh giác; Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp. Như vậy là vị ấy đã đoạn trừ 5 triền cái, đây là điều kiện duy nhất để hành giả có thể chứng đắc 4 thiền.

7). Chứng đắc bốn thiền

 Thiền thứ nhất

Theo ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ trạng thái thiền thứ nhất được giải thích như sau:

“Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.”[23]

 Vị tỷ kheo sau khi hoàn thành các pháp tác thành vị Sa môn là sống có giới hạnh, hộ trì các căn, tiết chế việc ăn uống, chú tâm cảnh giác và chánh niệm tỉnh giác xong, vị ấy lựa nơi thanh vắng, an trú niệm trước mặt, nhờ vậy mà vị ấy đoạn trừ 5 triền cái và chứng được cõi thiền thứ nhất. Cõi thiền thứ nhất được kinh này cũng như các kinh khác nhất quán định nghĩa là: Ly dục ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm và tứ. Có nghĩa là trạng thái thiền thứ nhất là trạng thái, sau khi Tỷ kheo đã từ bỏ những pháp gì thuộc về dục vọng và những hành vi bất thiện, nhờ sự từ bỏ này mà tâm tư của vị ấy xuất hiện một trạng thái hỷ lạc, ở cõi thiền này vẫn còn có tầm và từ, vì tâm tâm hành giả chưa mạnh mẽ tầm và tứ là trạng thái truy đuổi của tâmmuốn duy trì trạng thái hỷ lạc này Tỷ kheo phải duy trì tầm và từ.

  1. Thiền thứ hai

 Cũng theo kinh này, đức Phật đã giải thích cảnh giới thiền thứ hai được mô tả như sau:

 “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.”[24]

Dựa vào cơ sở chứng đắc của thiền thứ nhất là ly dục ly bất thiện pháp, hành giả tiếp tục nổ lực tu tập và chứng thứ hai. Với trạng thái của cõi thiền này, trước tiên hành giả phải từ bỏ tầm và tứ, đồng thời cũng từ bỏ trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh của thiền thứ nhất, để chứng trạng thái hỷ lạc do thiền định sanh, không có tầm và tứ, với nội tâm chuyên nhất, không tán loạn. Đây là trạng thái thiền thứ hai.

  1. Thiền thứ ba

Kế đến là thiền thứ ba, là cõi thiền tương đối cao. Cỏi thiền này được ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ giải thích như sau:

 “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba.”[25]

 Hoàn toàn không giống như hai cõi thiền trước, ở cõi thiền này, hành giả phải từ bỏ không những chỉ có trạng thái hỷ lạc của thiền thứ nhất, là hỷ lạc do ly dục ly bất thiện pháp sanh mà còn từ bỏ cả trạng thái lạc của cõi thiền thứ hai là lạc do định sanh, từ thái độ xả này, thân tâm vị ấy cảm thọ một loại lạc là ‘xả niệm lạc trú’. Đây là trạng thái thiền thứ ba được trình bày trong kinh này.

  1. Thiền thứ tư

Trong bốn cõi thiền, cõi thiền thứ 4 là cao nhất, khi hành giả chứng đắc cõi thiền này, 3 minh xuất hiện, khởi tứ vô lượng tâm là từ bi hỷ và xả. Theo ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ giải thích cõi thiền như sau:

 “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.”[26]

    Nếu như cõi thiền thứ nhất có niềm hỷ lạc do ly dục ly bất thiện pháp, thiền thứ hai lại có trạng thái hỷ lạc do tu tập thiền định ma sanh, nhưng ở cõi thiền thứ ba lại phải từ bỏ hai loại lạc này mà an trú trong trạng thái ‘xả’ của tâm. Nhưng đến cõi thiền thứ 4 hành giả không những chỉ có xả lạc xả khổ, xả hỷ xả ưu mà ngay cả trạng thái lạc do xả của cõi thiền thứ ba cũng xả luôn, vị ấy ở trong trạng thái được gọi là ‘không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.’. Đây là trạng thái thiền định của cõi thiền thứ 4 như đã được ghi lại trong kinh này.

Thiết nghĩ, nếu như người nào đã trải qua tu tập thiền định có thể hiểu biết tường tận hơn, trong phạm vi của ngôn từ thật khó mô tả cho tròn những trạng thái tâm lý của thiền định, chúng ta không thể cảm nghiệm niềm vui của những cõi thiền này, qua những kinh nghiệm cảm nhận những hỷ lạc của thế gian.

  1. Kết luận

     Sau khi đức Phật nhập diệt, cuộc sống của Tăng già cũng theo thời gian và không gian thay đổi, do vì thay đổi về phương cách sống dẫn đến sự bất đồng ý kiến về giới luật, giáo pháp mà đức Phật giảng dạy cũng được lý giải khác nhau theo cách nhìn của mình. Sự bất đồng này hình thành hai trường phái lớn của Phật giáo là Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Đại diện cho phái Thượng toạ bộ là những bậc Thượng toạ lớn tuổi, mang tư tưởng bảo thủ; Đại chúng bộ là những thanh niên tăng có tinh thần phóng khoáng cải cách. Những bản kinh Nikàya và A hàm là những bản kinh được kết tập thành văn tự có sớm nhất trong Phật giáo, là ngững bản kinh của phái Thượng toạ bộ.

    Mặc dù những bộ kinh này là những bộ kinh được kiết tập dưới thời vua A Dục (Asoka), là những bộ kinh của các bộ phái, không phải là Nguyên thuỷ, nhưng ngang qua những bản kinh này, chúng ta có thể khôi phục lại đời sống tăng già dưới thời đức Phật còn tại thế. Theo tinh thần ‘Đại Kinh Xóm Ngựa’ trong “Kinh Trung Bộ” ghi lại, khi nào chúng ta tự xưng ta là người xuất gia, sống đời sống Phạm hạnh thì chúng ta phải làm tròn bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia: Thứ nhất là chúng ta phải sống có giới hạnh; Thứ hai, hộ trì các căn; Thứ ba, tiết chế việc ăn uống; Thứ tư, chú tâm cảnh giác; Thứ năm, chánh niệm tỉnh giác; Thứ sáu, đoạn trừ 5 triền cái; Thứ bảy, thành tựu 4 thiền. Qua những phương pháp tu tập này, nó gợi ý cho ta hiểu một vấn đề,  dưới thời đức Phật còn tại thế, mục đích người xuất gia là tìm cầu sự giác ngộ và giải thoát, từ đó những hình thức tu tập mà đã được giảng dạy trong kinh này nó luôn luôn gắng liền với mục đích này, nó có xu hướng làm tăng trưởng trí tuệ, giảm thiểu những hình thức sinh hoạt vô ích.

Nội dung và ý nghĩa của bài viết này không ngoài tinh thần ‘Ôn cố tri tân’. Với tinh thần đó, trước nhất người viết căn cứ những kinh điển Nikàya giới thiệu ‘Đời sống của người xuất gia trong thời đức Phật còn tại thế’, hay nói đúng hơn người viết muốn đề cập đến tinh thần biết bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia. Bất cứ ai sống trong xã hội đều phải có bổn phận và trách nhiệm, dù nhỏ hay lớn, già hay trẻ. Người xuất gia cũng thế, phải có bổn phận và trách nhiệm riêng của mình. Trong những bổn phận, bổn phận đầu tiên là chúng ta phải hiểu rõ lời Phật dạy, nó làm kim chỉ nam hướng dẫn con đường tu tập và công việc hoằng dương Phật pháp.

Cũng qua nội dung bài viết này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu được 7 pháp tác thành vị Sa môn này cũng là hình thức sống và phương pháp tu tập của vị xuất gia trong đời sống nguyên thuỷ. Ở bối cảnh xã hội của thời đại chúng ta mặc dù có nhiều sự thay đổi, vì nhu cầu cuộc sống của từng xã hội khác nhau, do vậy chúng ta không nhất thiết phải rập khuôn làm theo, nhưng cho dù thay đổi dưới hình thức nào, hình thức sinh hoạt đó cũng phải được thiết lập trên tinh thần ‘giác ngộ’ và ‘giải thoát’ của đạo Phật. Giác ngộ là trí tuệ hay sự hiểu biết và giải thoát là sự hạnh phúc hay không cố chấp, không thể thiếu tinh thần đó ở bất cứ dưới hình thức sinh hoạt nào.

 

                   Thành phố Philadelphia, mùa hè năm 2005

            ______________________

SÁCH THAM KHẢO

  1. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992.
  2. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn hành 2000.
  3. Thiện Siêu và Thanh Từ dịch, “Kinh Tạp A hàm” tập 1 Viện NCPHVN ấn hành, 1993.
  4. Thiện Siêu và Thanh Từ dịch, “Kinh Tạp A hàm” tập 2 Viện NCPHVN ấn hành, 1994.

[1] Bao g ồm: 1. “Kinh Tương Ưng Bộ”, 2. “Kinh Trung Bộ”, 3. “Kinh Trường Bộ”, 4. “Kinh Tăng Chi Bộ”, 5. “Kinh Tiểu Bộ”.

[2] Bao gồm  4 bộ: 1. “Kinh T ạp A hàm”, 2. “Kinh Trung A hàm”, 3. “Kinh Trường A hàm”, “Kinh Tăng Nhất A hàm”.

[3] HT Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 41~58.

[4] HT Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 239~246.

[5] HT Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 31~32.

[6] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ”, tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 593~594.

[7] HT.Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ”, tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 112~113.

[8] Sđd trang 594.

[9] HT.Minh Châu dịch, ‘Kinh Giáo Giới Rahula Trong Rừng Ambala’ trong “Kinh Trung Bộ”, tập 2, Viện NCPHVN ấn hành 2000,  trang 174.

[10] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1,  Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 595~596.

[11] Tham khảo phần ‘Lời nói’.

[12] Tham khảo HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Kinh Tất Cả Lậu Hoặc’ trang 19~20 ghi: “Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt”.

[13] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn hành 2000, trang 174~175.

[14] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn hành 2000, trang 175~176.

[15] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 2, Viện NCPHVN ấn hành 2000, trang 176~177.

[16] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 596.

[17] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 597.

[18] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, ‘Tiểu Kinh Saccaka’ Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 510~ 511.

[19] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 598.

[20] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 599.

[21] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 600.

[22] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 600~601.

[23] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 603..

[24] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 604.

[25] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 605..

[26] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành 1992, trang 606.

Tác giả bài viết: Thích Hạnh Bình

Gửi bình luận của bạn

Mã chống spamThay mới
 
© Copyright 2016 Trường Phật Học Khánh Hòa
Địa chỉ: Số 20, Đường 23/10, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa - Điện thoại: 058. 3812542

Bài vở đóng góp, xin gởi về Ban biên tập qua địa chỉ email: truongphathockhanhhoa@gmail.com .
Ghi rõ nguồn www.truongphathockhanhhoa.edu.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.