Đăng nhập | Đăng ký

Thành viên đăng nhập

Thông tin Quảng trị 48h

Để đăng nhập, bạn cần khai báo đầy đủ vào các ô trống dưới đây. Hệ thống sẽ kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu khai báo
Chào mừng các bạn đến với Trường Phật Học Khánh Hòa

wWw.Truongphathockhanhhoa.edu.Vn

Tầm Nhìn-Quan Điểm

Xã hội hoá trong xã hội học với đạo đức Phật giáo

Xã hội hoá trong xã hội học với đạo đức Phật giáo

Xã hội hoá trong xã hội học với đạo đức Phật giáo

PHKH - Nói đến con người là chúng ta nói đến những thành tựu về các mặt văn hoá, khoa học, lịch sử, … nhưng bên cạnh đó còn một thành tựu vô cùng to lớn khác đó là giá trị của đạo lý làm người.
VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ TRONG XÃ HỘI HỌC VỚI ĐẠO ĐỨC CỦA PHẬT GIÁO
I. DẪN NHẬP
Nói đến con người là chúng ta nói đến những thành tựu về các mặt văn hoá, khoa học, lịch sử, … nhưng bên cạnh đó còn một thành tựu vô cùng to lớn khác đó là giá trị của đạo lý làm người. Chính nhờ chân giá trị này mà loài người đã biết xây dựng, yêu thương và không ngừng phát triển để tạo thành một thế giới tốt đẹp. Để có được những giá trị to lớn như vậy, con người đã không ngừng nỗ lực phấn đấu và trả một cái giá rất cao trong đó, phải kể đến vai trò vô cùng to lớn của các tôn giáo.
Phật giáo, với tư cách là một tôn giáo, nhưng không phải là một tôn giáo thần quyền đặt tất cả lợi ích ở thượng đế tối cao như những tôn giáo khác,[1] mà Phật giáo là một tôn giáo đặt căn bản lợi ích ở con người, do con người và vì con người: “Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì lợi ích và an lạc cho cả chư thiên và loài người”. [2] Vì thế, có thể nói Phật giáo là một tôn giáo dạy về con đường đạo đức đích thực, ngoài ra Phật giáo còn hướng tới mục đích là chuyển biến xã hội vượt thoát tất cả vấn đề thiện ác, quả báo để đạt Giải thoải niết bàn.
Ở vào bất cứ thời đại hay xã hội nào thì vấn đề đạo đức vẫn luôn là những mối quan tâm của tất cả mọi người, mọi giới. Làm sao để giải quyết những vấn đề đó, làm sao để xây dựng, cải tạo một xã hội cho thật tốt đẹp, hạnh phúc? Với tư cách là một tôn giáo nhân bản, Phật giáo phải giải quyết những vấn đề này như thế nào?
Để có cái nhìn tổng quát về đạo đức Phật giáo trong cộng cuộc xã hội hoá, chúng ta thử tìm hiểu sơ lược về những vấn đề liên quan đến đạo đức Phật giáo và sự ứng dụng vào xã hội như thế nào. Với một đề tài có tính cách bao quát và thực tiễn như vậy mà chỉ với mấy trang giấy trong bài thi cuối mùa một học kỳ chắc không thể trình bày cho đầy đủ và trọn vẹn như những gì mà Phật giáo đã cống hiến cho cuộc đời trên suốt 25 thế kỷ qua.
II. KHÁI NIỆM VỀ XÃ HỘI HỌC
Để hiểu xã hội hoá một cách rõ ràng thì chúng ta không thể nào không biết xã hội là gì.
Xã hội là tổng thể của những cá nhân cùng chung sống, sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất mà ở trong đó con người và hành động của họ làm nền tảng và tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Trong xã hội, không thể có những cá nhân biệt lập ở ngoài xã hội và ngược lại cũng không thể có những xã hội mà không từ những cá nhân tập hợp lại thành. Do vậy, xã hội học là khoa học về các quy luật, cơ chế biểu hiện và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong hoạt động của các cá nhân, các nhóm xã hội các giai cấp và các dân tộc.[3]
III. XÃ HỘI HOÁ LÀ GÌ?
1. Khái Niệm Về Xã Hội Hoá
Xã hội hoá là một quá trình các cá nhân tiếp nhận nền văn hoá trong đó con người đã sinh ra, là quá trình mà cá nhân học cách làm người, cách suy nghĩ, ứng xử sao cho hợp lí, hay nói một cách đơn giản nó là “một quá trình làm cho con người từ một thực thể sinh học thành một thực thể xã hội”.[4] Tuy nhiên xã hội hoá không đơn thuần chỉ nằm ở chiều thụ động tức là xã hội hoá cá nhân mà ngược lại, con người có thể chủ động tác động đến xã hội bằng cách thu thập học hỏi các kinh nghiệm rồi tác động trở lại cuộc sống.
2. Các Giai Đoạn Và Môi Trường Xã Hội Hoá
Cuộc sống của một đời người từ nhỏ đến lớn trải qua rất nhiều giai đoạn với những chu kỳ sinh lý và xã hội khác nhau. Do đó, quá trình xã hội hoá của một người trong cuộc đời cũng phải trải qua nhiều giai đoạn với các môi trường khác nhau. Ta có thể tạm chia thành ba giai đoạn sau:
a. Giai Đoạn Trẻ Em: Trong giai đoạn này trẻ em còn rất nhỏ nên môi trường xã hội hoá chính là gia đình. Đây là giai đoạn đầu tiên và hoàn toàn dựa trên vấn đề tình cảm và hoàn toàn tự nhiên. Tuy là giai đoạn đầu tiên nhưng nó vô cùng quan trọng vì nó tạo nên dấu ấn đầu tiên và có thể ảnh hưởng suốt cả cuộc đời bởi những ảnh hưởng này.
b. Giai Đoạn Học Sinh: Môi trường chính là học đường. Ở giai đoạn này, trẻ em bắt đầu có những nhận thức và biết tiếp thu những vấn đề đạo đức, tri thức. Từ đây trẻ em được cung cấp những tư cách làm người. Tuy nhiên, ở đây nó không chỉ đơn thuần tiếp nhận những kiến thức học đường mà còn tiếp thu những quy tắc, cách thức quy định hành vi của xã hội.
c. Giai Đoạn Trưởng Thành: Môi trường ở giai đoạn này không còn bó buộc trong những phạm vi nhỏ hẹp mà nó được mở rộng ra toàn xã hội. Đây là một quá trình vô cùng phức tạp, rộng lớn và phát triển theo lợi ích, thậm chí nó có thể phá vỡ những giai đoạn xã hội hoá trước đó. Như vậy, xã hội hoá là bài học làm người từ trong xã hội cụ thể bằng ba giai đoạn, là quá trình phát triển từ thấp đến cao và không đồng đều giữa các cá nhân.
IV. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1. Khái Niệm Về Đạo Đức
Nói đến đạo đức là nói đến một phạm trù khái niệm trừu tượng rộng lớn được thể hiện qua những quan niệm của những tập thể, dân tộc hay quốc gia nào đó. Có thể ở mỗi quốc gia có những quan niệm về đạo đức khác nhau nhưng vấn đề cơ bản vẫn không ra ngoài quan niệm về vấn đề luân lý nhân sinh của con người như hạnh phúc, thiện ác, công bằng, tự do v.v… theo chuẩn tắc chân thiện mỹ.
Socrate, triết gia cổ Hy Lạp, quan niệm về đạo đức chân chính như sau: “Một nền đạo đức thì không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, ta có thể tạo dựng một nền luân lí không phụ thuộc vào thần học, hoàn toàn thích hợp với những người có tôn giáo cũng như không tôn giáo thì xã hội mới ổn định”.[5]
2. Nền Tảng Đạo Đức Phật Giáo
Thật ra, đạo Phật ra đời mục đích không phải chỉ để dạy những vấn đề luân lý đạo đức mà vượt lên trên, Phật giáo mong muốn rằng, tất cả đều có thể đạt được cái hạnh phúc đích thực, cái hạnh phúc không còn bị chi phối bởi những vấn đề thiện ác luân lí của thế gian, đó là thành Phật, Niết bàn. Con đường đ1o được thể hiện qua bài kệ sau:
“Không làm các điều ác,       Thành tựu các hạnh lành.
Giữ tâm ý thanh tịnh.              Đó là lời Phật dạy”.
 (Pháp cú – 183)
Không những chấm dứt điều ác, làm các hạnh lành mà quan trọng người Phật tử luôn luôn phải giữ cho tâm ý thanh tịnh như thế mới thực hành đúng với bản ý của đức Phật, tức là có thể bước lên quả vị giải thoát. Vậy, để hiểu đạo đức Phật giáo ta cần phải biết qua những nền tảng đạo đức sau:
a. Giáo Lý Duyên Sinh, Ngũ Uẩn 
Duyên sinh có nghĩa rằng các pháp trong thế gian dù là hữu tình hay vô tình đều do các nhân duyên hợp lại mà thành, không thể có một pháp nào có tự thể riêng lẽ cá biệt độc lập với duyên sinh. Nó cũng có nghĩa là mọi pháp nương nhau tồn tại và sanh khởi, chúng vừa là nhân là duyên cho nhau nên khi nói đến một vấn đề này cũng là nói đến vấn đề khác; Ngũ uẩn thì xác nhận rằng các pháp đều do năm yếu tố: sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà tồn tại. Trong sắc uẩn đã bao hàm thân vật lý này, tha nhân và cả thế giới. Như vậy, con người luôn sống trong một thế giới tương quan bất khả phân ly, sự hiện hữu của một người có nghĩa là cùng hiện hữu với tha nhân và thế giới. Do vậy, sự hoà điệu và ổn định thế giới bên ngoài được bắt đầu từ sự ổn định và hoà điệu bên trong của mỗi cá nhân chúng ta.
b. Tinh Thần Trí Tuệ
Có thể nói toàn bộ hệ thống giáo lý, đạo đức Phật giáo được đặt trên nền tảng trí tuệ. Nói cách khác giáo lý, đạo đức Phật giáo là trí tuệ. Mỗi một hành động, theo Phật giáo, luôn cần phải được soi xét bởi trí tuệ mới có thể đưa đến hạnh phúc chân thật. Trí tuệ soi sáng dẫn đường cho hành động bằng cách đem yêu thương và an lạc đến mọi người. Thiếu trí tuệ thì dù có bất cứ hành động gì thì nó cũng không còn được gọi là đạo.
3. Các Nét Cơ Bản Của Đạo Đức Phật Giáo
Nếu đạo đức được hiểu như là hạnh phúc thì toàn bộ giáo lí Phật giáo đều là đạo đức vì Phật giáo là tôn giáo của hạnh phúc. Không có một hành động nào được đức Phật nói ra để ràng buộc đời sống tự do giải thoát con người mà ngược lại, tất cả chỉ vì đem lại lợi ích, hạnh phúc cho chúng sanh, cho loài người. Dù có biểu hiện hay diễn đạt bằng hình thức nào thì Phật giáo cũng luôn luôn gắn liền với lợi ích, từ bi và trí tuệ.
a. Giới Luật
Có thể nói toàn bộ giới luật Phật giáo là con đường đạo đức dành cho tất cả mọi căn cơ và trình độ, trong đó, tuỳ theo chủng tánh mà sự tiếp nhận giới luật có khác nhau. Trong giới luật Phật giáo, đặc biệt, đã bao hàm luôn cả hai tính chất: Không làm ác và hãy tích cực hành thiện. Nó không chỉ đơn thuần một mặt tiêu cực “không làm ác” như mọi người lầm tưởng. Tuy giới luật rất nhiều nhưng cơ bản vẫn không ra ngoài năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.
b. Nguyên Lý Nhân Quả Nghiệp Báo  
Nhân quả nghiệp báo chỉ ra rằng mình làm một việc gì thì sẽ gặp một kết quả tương tự với những gì mình đã làm (nhân nào quả nấy). Hành động đó sẽ đi theo mình, nó quyết định cả đời sống và hạnh nghiệp của mình. Tuy nhiên nhân quả không phải là những cái gì cố định bất di dịch mà thật ra nó luôn biến chuyển không ngừng tuỳ theo các yếu tố điều kiện hỗ trợ nó. Giáo lý Nhân quả nghiệp báo nêu cao tyinh thần trách nhiệm, nó dạy cho con người biết rằng mình phải chịu trách nhiệm lấy những hành động của mình và cũng từ chính mình mới có năng lực xây dựng xã hội tốt đẹp.
c. Tinh Thần Từ Bi Hỷ Xả
Từ bi hỷ xả là tứ vô lượng tâm, là bốn đức tính cần thiết không thể thiếu của một vị Bồ tát vào đời độ sanh. Từ bi có nghĩa là tình thương nhưng hoàn toàn mang tính vị tha, vô ngã cốt xoa dịu những nỗi khổ đau để đem an vui hạnh phúc cho chúng sanh. Hỷ xả có nghĩa là hoan hỷ với những gì người đạt được và buông bỏ những vướng mắc sai lầm của người. Bốn đức tính này là bốn món lương dược thật sự cần thiết để vào đời để đem an vui hạnh phúc cho mọi loài.
d. Tinh Thần Nhẫn Nhục.
Nhẫn nhục có nghĩa là nhẫn nhịn những việc bất như ý thích đối với mình nhằm tạo cho mình được tinh thần bao dung và vững chải. Nhẫn nhịn ở đây không có nghĩa là yếu hèn, nhút nhát, cam chịu như một số người lầm tưởng mà chính là một sự dũng cảm kiên cường bởi mình tự làm chủ, chiến thắng được chính mình. Trong kinh Pháp cú có câu: “thắng ngàn vạn quân địch không bằng chiến thắng mình. Chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất” (PC 103, phẩm Ngàn). Nếu muốn xây dựng và cứu giúp đời mà tâm lý luôn luôn nóng giận và bộc trực quá đáng cũng là một điều tai hại bởi chúng ta thường hay hành động theo cảm tính mà không được soi sáng bởi trí tuệ. Nhẫn nhục cũng không phải cho qua mà là biết nhìn nhận vào bản chất của vấn đề để có thể tạo nên những hành động đúng đắn trong sáng.
V. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ
Cũng như tất cả mọi ngành khoa học chân chính khác trên thế giới, Phật giáo nhận chân rằng, muốn cải tạo thế giới được yên vui hạnh phúc thì công việc đầu tiên là phải xây đắp được nền móng cho thật vững vàng kế đến mới tiến hành công việc xây cất. Nền móng chưa xong mà vội xây cất là một hành động thiếu trí tuệ và sai lầm. Cũng vậy, cải tạo xã hội không gì khác hơn là phải cải tạo từ mỗi cá nhân, những phần tử cấu tạo nên xã hội đó. Một khi những cá nhân trong đó được hoàn thiện thì xã hội tự nhiên trở nên thanh bình.
1. Đạo Đức Phật Giáo Đối Với Cá Nhân
- Với thuyết nhân quả thuyết nghiệp, Phật giáo đã nhấn mạnh rằng, chính con người mới có quyết định sau cùng và quan trọng nhất trong công cuộc cải tạo và xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Cuộc sống ấy phải do chính con người gầy dựng và bảo vệ mà không ai khác hơn có thể ban cho. Thượng đế hay thần linh chỉ là một cách đánh lừa nhận thức bởi thiếu tự tin và trí tuệ. Thất bại hay thành công cũng đều do mình, con người sẽ đạt được tất cả bởi đức Phật đã từng dạy: “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Nghĩa là ai cũng có khả năng hướng thượng, khả năng vươn tới đỉnh cao của sự thánh thiện, giải thoát. Hay như thuyết nghiệp nói: “ta là chủ nhân ông của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.[6] Do vậy, nhận chân được lí nhân quả nghiệp báo thì mình không than vãn, cũng không mừng rỡ; không than trời trách đất bởi tất cả đều do mình, mình tạo dựng thì mình thọ lãnh. Ý thức được như vậy mình sẽ không sầu khổ và từ đó tránh xa những hành động xấu xa tội lỗi mà cố gắng tạo dựng những nghiệp lành.
- Thọ Trì Năm Giới. Năm giới là những nguyên lý đạo đức tối thiểu của một đời sống trọn vẹn và tự nguyện. Không phù hợp với năm giới thì bất cứ danh xưng đạo đức cũng đều là giả tạo và sớm phải bị hoại diệt. Trong năm giới đã biểu thị đầy đủ đức tính từ bi, tôn trọng sự sống, hạnh phúc, tài sản, phẩm hạnh của người cũng như giữ được sự trung tín, thành thật với nhau. Và quan trọng là mình phải giữ được sự bình tỉnh, trí tuệ, bởi chỉ có trí tuệ mới có những hành động đúng, do vậy cần phải tránh xa các thứ chất kích thích, độc tố như rượu chè,càfe, thuốc lá và các chất gây nghiện ngập khác.
Năm giới cũng là biểu thị tính công bằng, lòng từ bi và sự bố thí vô uý[7] đối với tất cả mọi loài chúng sanh. Thực hành năm giới không những hoàn thiện tư cách đạo đức cá nhân mà còn làm cho xã hội được yên bình hạnh phúc. Như mình yêu quý mạng sống, của cải, gia đình, uy tín… của mình, mình tham sống sợ chết, sợ mất mát mọi thứ, như vậy suy ra người khác cũng như mình nên mình giữ ngũ giới. Mình giữ giới không sát sinh thì mọi loài không sợ bị giết, không trộm cắp thì mọi người không sợ bị mất v.v…
- Ngoài ra, mọi người phải biết nuôi dưỡng lòng từ bi hỷ xả. Chính nhờ tinh thần từ bi này mà có những sự dấn thân, hy sinh đem lại nguồn an vui, hạnh phúc cho nhân loại, cuộc sống. Từ bi khác với chữ ái (yêu) theo thường tình bởi tình yêu đó mang bóng dáng của vị kỷ, ái dục, là thu nhận về mình, không được về mình thì sinh ra thù hận. Từ bi xuất phát từ tình yêu thương không tính toán, đó là thứ tình thương vô điều kiện, luôn đồng hành cùng trí tuệ còn chữ ái của thế gian luôn đi với si mê, dục vọng, mà dục vọng si mê chắc chắc không phải nền hạnh phúc đạo đức chân thật. Một cá nhân hoàn thiện cũng phải trang bị cho mình những đức tính vì người như thế.
2. Đạo Đức Phật Giáo Đối Với Xã Hội
Ngoài vấn đề xây dựng đạo đức cá nhân thì tiến lên bước nữa cần phải cải tạo xây dựng xã hội bởi mục đích của Phật giáo không phải chỉ dạy cho một vài ba người là đủ mà là xây dựng xã hội hạnh phúc.
a. Để xây dựng xã hội vững mạnh và an lành, đức Phật đã chỉ dạy mọi người cần phải thực hành theo sáu pháp Hoà kính, gồm:
+ Thân hoà đồng trụ: cùng sống chung trong một trụ xứ thì mọi người phải biết cùng hoà thuận, yêu thương, đùm bộc và nâng đỡ lẫn nhau.
+ Khẩu hoà vô tránh: trong cuộc sống lúc nào cũng phải nói những lời nói nhã nhặn, êm ái dễ chịu, tránh sự gây gỗ xích mích. Nếu cần phải dùng lời cứng rắn thì cũng phải nói đúng với sự thật.
+ Ý hoà đồng duyệt: phải đồng lòng trong mọi công việc đúng đắn và nghiêm túc để xây dựng và bảo vệ nếp sống xã hội trong thanh bình, trật tự.
+ Giới hoà đồng tu: cùng chung sống trong một trụ xứ thì mọi ngừơi cần phải tuân thủ nhưng vấn đề đạo đức (ở đây là giới luật và luật pháp) như nhau.
+ Kiến hoà đồng giải: có những kiến giải, hiểu biết về bất cứ vấn đề gì đều đem chia xẻ và trao đổi với mọi người, tránh ôm ấp giữ gìn riêng làm của mình.
+ Lợi hoà đồng quân: là thành viên cùng chung sống đồng thuận thì bất cứ quyền lợi và nghĩa vụ mọi thành viên đều phải được hưởng tương xứng với chức năng và nhiệm vụ của người ấy.
b. Bên cạnh đó đức Phật dạy có bảy pháp khiến xã hội tồn tại và phát triển lâu dài đó là: 1, thường tụ họp đông đảo. 2, thường tụ họp trong đoàn kết và xây dựng. 3, không ban hành những luật lệ không thích hợp, không phá huỷ những luật lệ chính đáng. 4, thường tôn kính, đảnh lễ các bậc tôn túc và trưởng thượng. 5, không cưỡng bức, bắt cóc và chèn ép trẻ em và thiều nữ. 6, tôn sùng, đảnh lễ các tự miếu (giữ phong tục tập quán của dân tộc). 7, bảo hộ che chở, cúng dường các bậc thánh A La Hán.
Đối với các nhà lãnh đạo, Phật dạy cần phải thực hành theo một số điều gọi là Thập vương tử pháp. Đó là: sống liêm khiết; lời nói nhu hoà; hy sinh vì quyền lợi của nhân dân; lắng nghe tiếng nói của dân; nhẫn nhục không được trả thù; phục vụ hoà bình, không chủ chiến; làm theo ý dân.
Ngoài ra, cần phải thực hành thêm bốn Nhiếp Pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
3. Đạo Đức Theo Phật Giáo Qua Các Mối Quan Hệ
Ngoài những vấn đề chung đạo đức cho tất cả mọi ngừơi thì Phật giáo còn chỉ cách để chúng ta xây dựng đời sống một cách hiện thực bằng cách thể hiện qua các mối quan hệ khác nhau thông qua hình ảnh chàng Thiện sanh (Singàla)[8].
a. Quan Hệ Cha Mẹ Và Con Cái. Đây là mối quan hệ thiêng liêng và cao cả nhất trong các mối quan hệ và nó rất gần gũi hằng ngày với tất cả mọi người. Bổn phận của người cha mẹ đối vớ con cái rất là quan trọng do đó người cha mẹ cần phải: nuôi con ăn học cho tốt; ngăn chặn con làm những điều ác; hướng dẫn tạo nghề nghiệp cho con; lớn lên phải tạo lập gia đình và khi về cha mẹ về già thì nên trao gia tài của cải lại cho con. Ngược lại người con cũng phải hiếu thảo cha mẹ; chăm chỉ học hành và giữ gìn huyết thống; phụng dưỡng và cha sóc cha mẹ khi cần cũng như lúc về già.
b. Quan Hệ Giữa Chồng Và Vợ. Người chồng phải có trách nhiệm: thương yêu vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành đời sống vật chất cho vợ; chăm lo cho vợ và tôn kính gia đình bên vợ. Ngược lại người vợ cũng phải thể hiện nghĩa vụ của mình: làm tròn bổ phận với chồng; trung thành, siêng năng nhanh nhẹn trong mọi công việc gia đình; khéo đón tiếp gia đình bên chồng và quản lý tốt gia sản. Đặc biệt vợ chồng phải biết cảm thông tha thứ và chia sẻ cho nhau thì cuộc sống hạnh phúc lứa đôi được trọn vẹn.
c. Quan Hệ Giữa Thầy Trò. Về mối quan hệ thiêng liêng và cao quý này đức Phật dạy người thầy phải: rèn luyện cho học trì những cái gì mình có, rèn luyện các kỷ năng và hướng nghiệp cho học trò một cách vững vàng để vào đời sinh sống cũng như đức hạnh. Bổn phận người trò thì phải:cung kính và chăm chỉ học tập; vâng lời thầy và tự trao dồi các kiến thức mà thầy đã truyền trao.
d. Quan Hệ Bè Bạn, Bà Con Làng Giềng. Về mối quan hệ này mọi người cần thuỷ chung, không bỏ nhau khi khó khăn; khuyên những lời lợi ích; giúp đỡ khi ốm đau. Ngoài ra phải biết chia sẻ, nói những điều bí mật thân tín cho bạn bè nghe, ngăn chặn làm những điều ác…
c. Quan Hệ Giữa Chủ Thợ. Người chủ phải: trả lương thích đáng cho thợ và thỉnh thoảng nên thưởng thêm. Chăm lo thuốc men khi thợ đau ốm… người thợ đối với chủ thì phải: hết lòng với công việc; trung thành với chủ và thành thật phục vụ đem tiếng tốt cho chủ.
Những mối quan hệ được trình bày trên đây tuy không phải là những chuẩn mực đạo đức có giá trị vượt thời gian. Thế nhưng với những lời dạy đó phần nào đã nói lên được tinh thần nhân bản của Phật giáo mà không phải một tôn giáo tiêu cực xa, rời đời sống hạnh phúc thế gian.
VI. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI XÃ HỘI HOÁ TRONG HIỆN TẠI
Cuộc sống ngày hôm nay như thế nào? Đó là câu hỏi mà tất cả mọi người sẽ không khó tìm câu trả lời khi chỉ cần lật ngay trang báo vào mỗi buổi sáng, trong đó mọi cảnh tượng khổ đau, tàn khốc của cuộc sống hiện lên rõ như chỉ trong lòng bàn tay. Nào chuyện đông chuyện tây, trong nước ngoài nước với những cảnh tượng đâm thuê chém mướn, chồng vợ lường gạt lẫn nhau, cha mẹ con cái bất đồng nên xả ra những hiện tượng tồi phong bại tục. Xa hơn là các cuộc xung đột tranh giành quyền lực của phe phái này, bè nhóm khác, đảng phái kia, nào là cuộc chiến chống cái này, chống cái kia… đủ thứ diễn ra trong một tờ báo. Nhưng đó không phải là tất cả mà chỉ là phần nỗi, phần mà mọi người ai cũng thấy, cũng nghe còn đằng sau ấy biết bao nhiêu vấn đề đã, đang và sẽ xảy ra. Những cảnh tượng đau thương và hãi hùng ấy do đâu mà ra? Có phải do con người thiếu nhân tính, thiếu đạo đức. Đúng là như vậy nhưng tại sao lại thiếu nhân tính và đạo đức. Phật giáo lí giải rằng tất cả những hành động ấy do bởi ba yếu tố tham sân si điều khiển chi phối. Từ tham mà cướp của giành giật của cải tài sản và hạnh phúc kể cả mạng sống của người. Vì sân nên ra tay giết hại và phá hoại hạnh phúc của người không một chút e dè và vì si mê nên mới sinh ra rượu chè, dối trá và tất cả các hành động tham sân ở trên.
Để giải quyết, một lần nữa Phật giáo lại đề ra con đường Năm giới. Giữ năm giới không những tránh được những vấn đề của xã hội ngày hôm qua mà nó còn có thể giải quyết được cả những vấn đề của thời đại ngày hôm. Tại sao lại như vậy? Bởi giữ giới là không làm những điều ác pháp mà thực hành những thiện nghiệp. Chẳng hạn, không sát sinh mà phải phóng sanh, phải tôn trọng và bảo vệ mạng sống của mọi loài; không trộm cắp thì phải bố thí; không tà dâm mà bảo vệ đời sống gia đình, trinh tiết của người; không nói những lời thô ác mà nói những lời ái ngữ, hoà nhã và đem lại lợi ích; không uống rượu mà phải học tập để phát triển trí tuệ rồi giảng dạy lại cho người… Như vậy giữ giới không phải tiêu cực, làm cho xã hội ngưng phát triển. Đây chính là điều đặc biệt chỉ riêng đạo đức Phật giáo mới thể hiện một cách trọn vẹn trong công cuộc xã hội hoá toàn cầu như hiện nay. Và đây cũng chính là điều mà tổ chức Liên Hiệp Quốc đã lấy Năm giới phật giáo làm Năm yếu tố hoà bình của thế giới.
VII. KẾT LUẬN
Phật giáo đã tồn tại, phát triển mạnh mẽ trong hơn 2500 năm qua các quốc gia và các triều đại khác nhau, tuỳ theo từng địa phương mà Phật giáo biểu hiện với những hình thức khác nhau nhưng cốt yếu nhằm hướng con người đạt đến một cảnh giới tốt đẹp, hạnh phúc. Đó chính là tinh thần “Tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên” hay tính “đạo đức thích ứng” của đạo Phật. Tất cả đều vì con người, vì lợi ích và hạnh phúc con người nên Phật giáo không ngần ngại thích nghi và hoà hợp cùng với bản sắc văn hoá ấy.
Lịch sử Phật giáo Việt Nam và thời đại Lý Trần đã chứng minh hùng hồn cho tinh thần ấy. Một điều mà khó ai có thể phủ nhận là khi nhà nước cầm quyền sống theo giáo lý Phật giáo thì đất nước hùng mạnh; ngược lại, Phật giáo không được trọng dụng, phổ biến cũng đồng nghĩa với việc nhà nước suy vong. Và một điều tất nhiên là chưa bao giờ Phật giáo tồn tại ngoài dân tộc. Dân tộc được tốt đẹp thì Phật giáo mới vững mạnh, ngược lại dân tộc tiêu vong Phật giáo tiêu vong theo.
Tất cả những điều đó đã nói lên chân tinh thần của Phật giáo nói chung, đạo đức Phật giáo nói riêng trong vấn đề xã hội hoá (hay hoà nhập và cải tạo xã hội và con người). Điều đó lí giải tại sao Phật giáo luôn được hoan nghênh và chấp nhận, dù là bất cứ phương sở hay thời điểm nào. Và tất nhiên, như có dĩa thức ăn để đó mà không chịu ăn mà cứ ngồi nhìn thì dù có nhìn suốt ngày cũng không thể nào làm cho người nhìn no bụng được, chỉ có khi người ấy cầm đũa lên và ăn thì cơn đói sẽ được giải quyết. Đạo đức Phật giáo cũng khôn gohải là món trang trí hay thưởng thức mà là để thực hành. Chỉ đứng ngoài mà bàn tán thì suốt đời vẫn không thể nào cảm nhận nền đạo đức, hạnh phúc đích thực đó là gì.
Thích Nguyên Tuấn - khóa 6 
 
 

[1] Xem Các Trường Phái Triết Học Trên Thế Giới của David E. Cooper do Lưu Văn Hy và nhóm Trí Tri dịch. Hà Nội: NXB Văn Hoá Thông Tin, 2005, tr. 41
[2] Trường Bộ, Kinh Du Hành.
[3] Phạm Tất Dong chủ biên. Xã Hội Học, NXB Giáo Dục, 1999, tr. 13.
[4] Trần Thị Kim Xuyến chủ biên, Nhập Môn Xã Hội Học. TPHCM: NXB ĐH Quốc gia, 2005, tr.147.
[5] Trí Hải & Bửu Đích dịch, Câu Chuyện Triết Học của Will Durant. SaiGòn, Tu thư vạn hạnh. 1971. tr.18
[6] Tăng Chi Bộ kinh, Thích Minh Châu dịch. 1998, tr. 77
[7] Nghiã là ban cho mọi người sự không sợ sệt. Đây là hình thức bố thí cao nhất trong Phật giáo, gồm có ba: tài thí (bố thí bằng tài vật), pháp thí (bố thí bằng cách thuyết giảng, dạy dỗ người khác) và vô uý thí.
[8] Thích Chơn Thiện, Những Hạt Sương. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2004, tr. 89-92

Tác giả bài viết: Thích Nguyên Tuấn - khóa 6

Gửi bình luận của bạn

Mã chống spamThay mới
 
© Copyright 2016 Trường Phật Học Khánh Hòa
Địa chỉ: Số 20, Đường 23/10, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa - Điện thoại: 058. 3812542

Bài vở đóng góp, xin gởi về Ban biên tập qua địa chỉ email: truongphathockhanhhoa@gmail.com .
Ghi rõ nguồn www.truongphathockhanhhoa.edu.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.